HO CHI MINH CITY JOURNAL OF MEDICINE
banner
Nghiên cứu Y Học

ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ ÁP DỤNG KỸ THUẬT LỌC MÁU LIÊN TỤC TRONG ĐIỀU TRỊ SỐC NHIỄM KHUẨN

EVALUATING THE THERAPEUTIC EFFECTIVENESS OF THE CONTINUOUS RENAL REPLACEMENT THERAPY TECHNIQUE IN SEPTIC SHOCK

Bấm tải bài viết

Tạp chí Y học Thành phố Hồ Chí Minh, 16(2):145. DOI

Lượt xem: 537 Lượt tải PDF: 26

Tác giả

Phạm Thị Ngọc Thảo*, Nguyễn Gia Bình**, Đặng Quốc Tuấn**, Trần Thanh Cảng***

Tóm tắt

Mở đầu: Lọc máu liên tục được nhiều tác giả cho là có thể lọc cytokine, cải thiện huyết động, ngăn chận tiến triển của suy đa tạng trong giai đoạn sớm và hỗ trợ chức năng các tạng, kiểm soát tốt nước, điện giải, thăng bằng kiềm toan, thanh thải các chất hòa tan trong giai đoạn muộn. Ở trong nước, lĩnh vực này đã có một số nghiên cứu bước đầu về hiệu quả lọc máu liên tục nhưng kết quả có một số kết luận trái chiều, vì thế chúng tôi thực hiện nghiên cứu đa trung tâm tại ba bệnh viện Chợ Rẫy, Bạch Mai, Việt Tiệp với đề tài “Đánh giá kết quả áp dụng kỹ thuật lọc máu liên tục trong điều trị sốc nhiễm khuẩn” nhằm đánh giá hiệu quả lọc máu liên tục trong điều trị sốc nhiễm khuẩn..

Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Đối tượng nghiên cứu: bệnh nhân ³18 tuổi, được chẩn đoán sốc nhiễm khuẩn dựa theo tiêu chuẩn của Hội nghị thống nhất các Hội hồi sức thế giới năm 2001(11), nhập khoa HSCC bệnh viện Chợ Rẫy, Bạch Mai, Việt Tiệp từ 01/08/2008 đến 31/08/2010. Phương pháp nghiên cứu: can thiệp, tự chứng. Bệnh án nghiên cứu theo mẫu. Máy lọc máu liên tục Prismaflex của Hãng Gambro. Các bệnh nhân vào nghiên cứu được đánh giá hiệu quả trên huyết động, hiệu quả giảm tiến triển suy đa tạng, các biến chứng của lọc máu liên tục và các hiệu quả khác.

Kết quả: 73 bệnh nhân được chẩn đoán sốc nhiễm khuẩn đã duy trì được huyết áp tâm thu ≥ 90mmHg bằng truyền dịch và thuốc vận mạch theo tiêu chuẩn của ACCP/SCCM-2001 được đưa vào nghiên cứu. Điểm APACHE II: 23,47 ± 5,52 và SOFA: 12,59 ± 3,26. Số tạng suy: 3,19 ± 0,95. Thời gian từ khi sốc đến khi lọc máu liên tục: 24,34 ± 13,26 (giờ). Thông số huyết động được cải thiện: nhịp tim giảm có ý nghĩa (p< 0,001), cải thiện huyết áp trung bình từ giờ thứ 6 trở đi (p < 0,001), tăng có ý nghĩa (p < 0,001) sức cản mạch hệ thống từ giờ thứ 6 lọc máu trở đi ở cả 2 nhóm sống và tử vong. Điểm SOFA giảm có ý nghĩa từ giờ thứ 48 (p < 0,001), giảm được liều thuốc vận mạch, cải thiện điểm SOFA ở nhóm sống có ý nghĩa sớm hơn từ giờ thứ 24 (p < 0,01). Cải thiện pH máu có ý nghĩa thống kê từ giờ thứ 48 (nhóm sống) (p<0,05) và cải thiện lactat máu từ giờ thứ 6 (p < 0,05) (nhóm sống). Tỉ lệ thoát sốc 54,79 % và tỉ lệ tử vong 49,3 %. Lọc máu liên tục trong vòng 12 giờ đầu từ khi khởi phát sốc nhiễm khuẩn cho kết quả tốt hơn lọc máu muộn sau 12 giờ (tỉ lệ tử vong 11,8% so với 72,4% với p < 0,05).

Kết luận: Kỹ thuật lọc máu liên tục tĩnh mạch tĩnh mạch với thể tích dịch thay thế cao tỏ ra có hiệu quả tốt trong điều trị sốc nhiễm khuẩn: các chỉ số về lâm sàng và cận lâm sàng được cải thiện trong quá trình lọc máu, giảm được tỷ lệ tử vong, nhất là ở nhóm bệnh nhân được lọc máu sớm. Quy trình kỹ thuật lọc máu liên tục tĩnh mạch tĩnh mạch với thể tích dịch thay thế cao tỏ ra an toàn khi ứng dụng điều trị sốc nhiễm khuẩn, có thể áp dụng rộng rãi ở các cơ sở hồi sức - cấp cứu có khả năng thực hiện lọc máu liên tục.

Abstract

EVALUATING THE THERAPEUTIC EFFECTIVENESS OF THE CONTINUOUS RENAL REPLACEMENT THERAPY TECHNIQUE IN SEPTIC SHOCK

 

 

Introduction: The continuous renal replacement therapy (CRRT) is recognized by many authors as being able to filtrate cytokines, improve hemodynamics, prevent the development of the multiple organ dysfunction syndrome in early stage and support organ function, control water, electrolyte and metabolic balance as well as clear the solute in the late stage of septic shock. In Vietnam, there have been some investigations on the therapeutic power of CRRT drawing somewhat contradictory conclusions which motivated us to conduct a multi-center study in there hospital Cho Ray, Bach Mai and Viet Tiep entitled “Evaluating the therapeutic effectiveness of the continuous renal replacement therapy in septic shock” with the aim at evaluating the therapeutic effectiveness of CRRT in septic shock.

Patients and Methods: Patients: Patients of ³18 year old diagnosed of septic shock based on the criteria issued by the American College of Chest Physicians/Society of Critical Care Medicine Consensus Conference 2001 (ACCP/SCCM-2001)(11), hospitalized in Cho Ray Hospital, Bach Mai Hospital and Viet Tiep Hospital from August 1st 2008 to August 31st 2010.

Methods: This was an interventional clinical study. Data were collected according to study protocol. CRRT machines used in the study were Prismaflex (Gambro Company). Patients recruited were evaluated the efficacy of CRRT on hemodynamics, regression of multiple organ dysfunction syndrome, potential complications of CRRT and other impacts.

Results: Seventy three patients with septic shock who were maintained a systolic blood pressure of ≥ 90mmHg by fluid therapy and vasoactive drugs according to the criteria by ACCP/SCCM-2001 were recruited in to the study. The APACHE II score: 23.47 ± 5.52 and SOFA of 12.59 ± 3.26. Number of organ with dysfuntion: 3.19 ± 0.95. Time gap from shock to initiation of CRRT: 24.34 ± 13.26 hours.Improvement of hemodynamics: significant reduction of heart rate (p< 0.001), improved mean blood presure after 6h under CRRT (p< 0.001), significant increase (p< 0.001) of systemic vascular resistance after 6h in both patient groups of survival and death. The SOFA score decreased significantly after 48h under CRRT (p< 0.001), reduction of vasoactive drugs dosage and the SOFA score improved earlier in survived patients after 24h under CRRT (p< 0.01). The pH values and serum lactate levels in the survival group improved significantly from the 48th hour (p< 0.05) and from the 6th hour (p< 0.05), respectively. Shock was sucessfully treated in 54.79% of patients and death rate was of 49.3%. Early initiation of CRRT within 12 hours from onset of shock lead to better outcome in comparison with late initiation of CRRT after 12 hours from onset of shock (survival rate 11.8% versus 72.4%, respectively, p< 0.05).

Conclusion: The veno-venous CRRT technique with high replacement fluid volume proved highly effective in the treatment of septic shock: improvement of clinical and laboratory indexes, reduction of death rate, especially in group of early initiation of CRRT. The technique of veno-venous CRRT with high replacement fluid volume was of safety in the treatment of septic shock and could be widely applied in the intensive care units where CRRT is available.