HO CHI MINH CITY JOURNAL OF MEDICINE
banner
Nghiên cứu

DỊCH TỄ HỌC CỦA TRÀN DỊCH NÃO THẤT TẠI BỆNH VIỆN NHI ĐỒNG 1

EPIDEMIOLOGY OF HYDROCEPHALUS AT THE CHILDREN'S HOSPITAL N01

Bấm tải bài viết

Tạp chí Y học Thành phố Hồ Chí Minh, 9(1):75. DOI

Lượt xem: 134 Lượt tải PDF: 0

Tác giả

Nguyễn Đức Tuấn, Nguyễn Bảo Tường

Tóm tắt

Mục tiêu: Khảo sát dịch tễ học và kết quả điều trị bệnh tràn dịch não thất (TDNT) tại BVNĐI.
Phương pháp: Hồi cứu lại 218 trường hợp từ 11/2000 đến 09/2004.
Kết quả: Bệnh chiếm ưu thế ở phái nam (63,4%). Tuổi nhập viện trung bình là 16,5 tháng. Bệnh phân bố rộng khắp 25 tỉnh thành phía Nam. Viêm màng não mũ (4%), xuất huyết não - màng não (1,1%), u não (0,6%) và 94,3% không xác định được nguyên nhân. Trên 10% trẻ chỉ phát hiện tình cờ khi đến khám vì một bệnh lý khác. Can thiệp ngoại khoa chiếm 25,7% với tỉ lệ thành công 96,5%.
Kết luận: TDNT là một bệnh lý có ưu thế ở phái Nam, phân bố rộng khắp các tỉnh thành phía Nam, trên 10% các trường hợp là phát hiện tình cờ. Việc phát hiện bệnh và điều trị sớm là yếu tố quan trọng nhất để giảm thiểu di chứng. Trong thực tế vì những khó khăn kinh tế và hạn chế về trình độ hiểu biết của gia đình khiến tuổi nhập viện trung bình còn muộn (16,5 tháng), tỉ lệ mổ chỉ đạt 25,6% các trường hợp. Can thiệp ngoại khoa hứa hẹn nhiều triển vọng với tỉ lệ thàng công trên 95%.

Abstract

Objective: Studying of the epidemiology and outcome of hydrocephalus at the children's hospital N01.
Methods: Retrospective study 218 cases from Jan 2000 to Dec 2003.
Results: Hydrocephalic male was predominance (63,4%), The distribution of hydrocephalic infant was all of provinces of South Vietnam, no causes were 94,3%, cerebral hemorrhage were 1.1%, meningitis were 4%, tumor was 0,6%. Over 10% cases were accidentally diagnosis by cerebral ultrasound. Surgical intervention was 25,7% with 96,5% success ratio.
Conclusion: Hydrocephalic male is predominance, The distribution of hydrocephalic infant was all of provinces of south Viet Nam, no symptom of brain was over 10% cases, therefore the mean of age be hospitalized was too late (16,5 months) causing difficulties to treat early. Routinely cerebral ultrasound after birth was necessary and hydrocephalic infant must be transfer to the better hospitals. Surgical intervention was 25,7% with 96,5% success ratio.