Nghiên Cứu Y Học
EFFICACY OF FACE TO FACE COUNSELING TO IMPROVE KNOWLEDGE, ATTITUDE, AND PRACTICE IN MALARIA PREVENTION AMONG BANA PEOPLE AT KROÂNG CHRO, GIA LAI, 2005
Bấm tải bài viết
Tạp chí Y học Thành phố Hồ Chí Minh,
11(1):70. DOI
Lượt xem: 147 Lượt tải PDF:
0
Tác giả
Nguyễn Ngọc Lợi(1), Nguyễn Đỗ Nguyên(2)
Tóm tắt
Mục tiêu: Xác định hiệu lực của biện pháp tư vấn trực tiếp tại hộ gia đình nhằm tăng tỉ lệ người dân Ba Na có kiến thức, thái độ, và thực hành đúng trong phòng chống sốt rét, so với những biện pháp khác đã và đang được áp dụng (họp dân, tranh, truyền hình, đài phát thanh).
Thiết kế nghiên cứu: Can thiệp cộng đồng Địa điểm: Huyện Krông Chro, tỉnh Gia Lai, năm 2005
Phương pháp: Ở xã can thiệp, 90 chủ hộ người Ba Na được tư vấn trực tiếp hàng tháng về kiến thức và thực hành phòng chống sốt rét. Một nhóm 90 chủ hộ ở xã chứng được giáo dục với nội dung tương tự thông qua họp dân, tranh, truyền thanh, và truyền hình. Kiến thức, thái độ, và thực hành phòng chống sốt rét được đo lường trước và sau can thiệp 6 tháng thông qua phỏng vấn và quan sát.
Kết quả: Chỉ có ở nhóm can thiệp, thái độ và thực hành tăng cao có ýý nghĩa thống kê sau sáu tháng so với trước khi can thiệp. So sánh giữa hai nhóm sau sáu tháng, tỉ lệ có thái độ và thực hành đúng ở nhóm can thiệp là cao hơn có ý nghĩa thống kê so với nhóm chứng. Kiến thức là không thay đổi trong từng nhóm và giữa hai nhóm.
Kết luận: Biện pháp tư vấn trực tiếp tại nhà có hiệu lực cải thiện thái độ và thực hành phòng chống sốt rét ở cộng đồng Ba Na tỉnh Gia Lai.
Abstract
Objective: To identify the efficacy of face to face counseling, compared to mass media education measures, in improving the knowledge, attitude, and practice in malaria prevention among Bana people.
Study design: Community intervention Setting: Kroâng Chro district of Gia Lai province, in 2005.
Methods: Ninety subjects were selected for the intervention or control group. The intervention was an education program consisting of knowledge and practices regarding malaria prevention by individual face to face counseling, and the same contents were introduced to the controls but via meetings, posters, television, and radio. Knowledge, attitude, and practices of the study subjects were assessed before and 6 months after intervention through interview and observation.
Results: Only within the intervention group that attitude and practice were found significantly higher after intervention. In comparison among groups after intervention, there was no difference in knowledge, but the proportion of subjects having a positive attitude or correct practice was significantly higher in the intervention group.
Conclusion: In improving the attitude and practice regarding malaria prevention in Bana communities at Gia Lai province, the face to face counseling at household level proved to be more efficacious than the traditional mass media measures.