HO CHI MINH CITY JOURNAL OF MEDICINE
banner
Nghiên cứu

ĐIỀU TRỊ NGOẠI KHOA PHỔI BIỆT TRÍ TẠI BỆNH VIỆN CHỢ RẪY TRONG 10 NĂM (1994-2004)

SURGICAL TREATMENT OF PULMONARY SEQUESTRATION AT CHO RAY HOSPITAL IN 10 YEARS (1994-2004)

Bấm tải bài viết

Tạp chí Y học Thành phố Hồ Chí Minh, 9(1):66. DOI

Lượt xem: 285 Lượt tải PDF: 1

Tác giả

Nguyễn Công Minh

Tóm tắt

Mục tiêu: Phổi biệt trí là 1 sang thương bất thường bẩm sinh hoặc mắc phải, được định nghĩa là 1 phần phổi mất chức năng, không còn thông thương trực tiếp với cây phế quản. Phổi biệt trí đươc chia làm 2 loại: phổi biệt trí nội thùy (nằm bên trong thùy phổi) và phổi biệt trí ngoại thùy (nằm trong khoang màng phổi). Mục đích của công trình này là trình bày kết quả chẩn đoán và phương thức điều trị phổi biệt trí trên người lớn tại BV Chợ Rẫy.
Phương pháp nghiên cứu và kết quả: Trong 10 năm (1995-2004) tại BV Chợ Rẫy, chúng tôi có 23 trường hợp phổi biệt trí: 83% là phổi biệt trí nội thùy và 7% là phổi biệt trí ngoại thùy. 56% các trường hợp được chẩn đoán trước khi mổ. 91% phổi biệt trí thuộc về bên phổi trái. Không có biến chứng và tử vong trong lần nghiên cứu này. -Đại đa số phổi biệt trí nội thùy ở lứa tuổi từ 15-25: 74% có biểu hiện nhiễm trùng phổi tái đi tái lại và 16% các trường hợp không có TC, tình cờ phát hiện qua phim ngực qui ước. Về máu nuôi: 68% được tiếp liệu từ động mạch chủ ngực và 21% từ động mạch chủ bụng ngay dưới hoành. Điều trị là cắt thùy phổi. -4 trường hợp phổi biệt trí ngoại thùy không có biểu hiện lâm sàng. Tất cả đều chẩn đoán được trong lúc mổ và máu được tiếp liệu bởi động mạch chủ ngực. Điều trị cắt bỏ phần phổi biệt trí, giữ nguyên vẹn phổi lành.
Kết luận: Khi chẩn đoán được PBT, nên cắt bỏ càng sớm càng tốt vì biến chứng chảy máu nặng do nhiễm trùng rất cao. Vấn đề quan trọng là làm sao chẩn đoán được PBT trước mổ hoặc phải đánh giá kỹ trong khi mổ bóc tách cắt thùy, bởi vì nguyên nhân tử vong thường là chảy máu do không kiểm soát được mạch máu bất thường từ hệ chủ.

Abstract

Objective: Pulmonary sequestration is a rare congenital or acquired pulmonary anomaly, nonfunctioning lung tissue with no direct commucation with the tracheobronchial tree. Pulmonary sequestration may be classified as intralobar, located within the normal lung; or extralobar, in which it is separated by pleura. The blood supply to both of them were the anomalous systemic vessels. The purpose of this report was presented the diagnosis and treament of all adulte pulmonary sequestration at ChoRay hospital.
Methods and results: During 10 years, between 1/1994 to 12/2004, at ChoRay hospital, we are 23 cases: 83% intralobar bronchopulmonary sequestration (IPS) and 7% extralobar bronchopulmonary sequestration (EPS). 56% was diagnosed peoperation. 91% on the left side. No complication and no mortality. -Most of IPS were from 15-25 of age: 74% with residive pulmonary infection and 26% has no symtoms. 68% were supplied by thoracic aorta, 21% from subdiaphragmatic abdominal aorta. The treatment was removal of an EPS without effecting the normal lung. -4 ELS present as asymtomatic lesion. All of them wre diagnosed intraoperation and theirs blood supply is from thoracic aorta. The treatment was resection of the whole lobe, lobectomy.
Conclusion: When diagnosed the pulmonary sequestration, It should be operated early, because of the potential of bleeding complication from repeated pulmonary infection. The important problem is how to definited either preoperative or intraoperative one, because the main cause of introperative mortality is hemorrhage secondary to accidental severance of a systemic artery