HO CHI MINH CITY JOURNAL OF MEDICINE
banner
Nghiên cứu y học

KẾT QUẢ HẬU PHẪU 9 TRƯỜNG HỢP HẸP VAN 2 LÁ TRÊN PHỤ NỮ CÓ THAI

SURGICAL OUTCOME OF 9 PATIENTS WITH MITRAL STENOSISDURING PREGNANCY

Bấm tải bài viết

Tạp chí Y học Thành phố Hồ Chí Minh, 6(1):61. DOI

Lượt xem: 145 Lượt tải PDF: 0

Tác giả

Nguyễn Thị Quý, Phạm Nguyễn Vinh

Tóm tắt

Bệnh nhân hẹp van 2 lá khi mang thai thường dung nạp rất kém. Trong 1 số trường hợp điều trị nội khoa thường không hiệu quả và cần can thiệp phẫu thuật sớm. Nghiên cứu hồi cứu 9 trường hợp hẹp van 2 lá trên phụ nữ có thai được phẫu thuật tại Viện tim Tp.Hồ Chí Minh: 7 bệnh nhân đã được mổ nong van tim kín, 2 bệnh nhân được mổ tim hở với tuần hoàn ngoài cơ thể (1 bệnh nhân được thay van sinh học và 1 đươc sửa van kèm đặt vòng van). Diện tích mở van 2 lá và huyết động cải thiện đáng kể sau phẫu thuật. Diện tích mở van 2 lá tăng từ 0.78 ± 0.13 cm2 lên 1.59 ± 0.20 cm2 (p< 0.05); áp lực ĐM phổi trung bình giảm từ 72.5 ± 17.4 mmHg xuống còn 57.5 ± 23.6 mmHg (p<0.05), độ chênh áp trung bình ngang lỗ van 2 lá giảm từ 20.5 ± 4.95 mmHg còn 10.5 ± 4.03mmHg (p<0.05). Thai nhi trong 7 trường hợp mổ tim kín tiếp tục phát triển và thai kỳ chấm dứt ở tuổi thai 36.8 ± 1.09 tuần, trọng lượng trung bình của thai nhi lúc sanh là 3.03± 0.14 kg. Tuy nhiên, những trường hợp mổ với tuần hoàn ngoài cơ thể đều đưa đến tử vong cho thai nhi, trong số đó có 1 trường hợp gây tử vong cho mẹ. Kết quả nghiên cứu cho thấy mổ tim kín rất an toàn và hiệu quả trong các trường hợp hẹp van 2 lá trên phụ nữ có thai. Tử vong cho thai nhi do tim phổi nhân tạo còn chiếm tỷ lệ cao. Và để giảm nguy cơ gây tử vong này, lưu lượng máu đến cuống rốn phải được duy trì đầy đủ và tần số tim thai phải đươc theo dõi kỹ trong suốt thời gian phẫu thuật cũng như thời kỳ hậu phẫu.

Abstract

Patients with mitral stenosis usually tolerate pregnancy poorly. Medical treatment is not effective in some case with require surgical intervention as soon as possible. We study retrospectively 9 cases of mitral stenosis in pregnant patients operated at the Heart Institute of Ho Chi Minh City, of whom seven underwent close-heart mitral commissurotomy and two underwent cardiopulmonary bypass (one biologic valve replacement and one mitral repair with an artificial ring). Mitral valve area and hemodynamics were improved significantly after operation. The mitral valve area increased from 0.78 + 0.13 cm2 to 1.59 + 0.20 cm2 (p < 0.05); mean pulmonary artery pressure decreased from 72.5 + 17.4 mmHg to 75.5 + 23.6 mmHg (p<0.005); and mean pressure gradient across mitral valve orifice decreased from 20.5+4.95 mmHg to 10.5 + 4.03 mmHg (p, 0.005) The fetuses of seven close heart mitral commissurotomies continued growing and terminated at the age of 36.8 + 1.09 weeks, the mean postpartum fetal weight was 3.03 + 0.14 kg. However, fetal mortality was resulted from cardiopulmonary bypass (CPB) for both mitral repairing, one of which caused maternal death. The mentioned result reveals that close heart surgery proved to be safe and effective as well for mitral stenosis. Fetal mortality secondary to CPB is still at high rate. In order to reduce this risk placental blood flow must be sufficienttly maintained and per- and post-operative monitoring of fetal heart rate is the means of choice.