HO CHI MINH CITY JOURNAL OF MEDICINE
banner
Tổng quan

ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG, MÔ BỆNH HỌC VÀ KẾT QUẢ PHẪU THUẬT BƯỚU SAU PHÚC MẠC

CLINICAL, HISTOPATHOLOGICAL CHARATERISTICS AND SURGICAL OUTCOME OF THE RETROPERITONEUM TUMOR

Bấm tải bài viết

Tạp chí Y học Thành phố Hồ Chí Minh, 7(4):544. DOI

Lượt xem: 131 Lượt tải PDF: 0

Tác giả

Vũ Trí Thanh, Văn Tần

Tóm tắt

Từ năm 1996 - 2002 có 172 trường hợp bướu sau phúc mạc được mổ tại bệnh viện Bình Dân, chúng tôi nhận thấy đa số trường hợp bướu sau phúc mạc xảy ra ở lứa tuổi từ 41 đến 50 tuổi, nữ gặp nhiều hơn nam là 1.6 lần. Triệu chứng thường gặp nhất là đau bụng và sờ được khối u bụng. Siêu âm được sử dụng phổ biến. CT scan chưa áp dụng rộng rãi cho tất cả trường hợp. Hầu hết các trường hợp bướu còn khu trú tại chỗ hoặc xâm lấn các cơ quan lân cận. Có 70% trường hợp cắt trọn bướu, các trường hợp còn lại chỉ cắt được 1 phần bướu hoặc chỉ sinh thiết bướu do bướu dính vào các mạch máu quan trọng. Bướu lành, sau mổ, không cần điều trị gì thêm. Bướu ác, sau mổ, tùy loại mô bệnh học, kích thước, vị trí và cách xử trí phẫu thuật bướu, cần kết hợp với hóa trị hoặc xạ trị.

Abstract

From 1996-2002 there were 172 cases of retroperitoneal tumors operated at Binh Dan Hospital, the result were summaried as follow: Most patients at the age between 41 - 50. Retroperitoneal tumors in female are 1.6 more than in male. The most common presenting symtom found to be abdominal pain and presence of a mass in the abdomen. Ultrasonography and Computed tomography (CT) give a accurate diagnosis. Local tumor is common, if metastasis occur, it typically spreads hematogenously to liver and lung. 70%cases retroperitoneal tumors are operable. Postoperative maglinant retroperitoneal tumors should receive adjuvant chemotherapy or radiotherapy.