Nghiên Cứu Y Học
ANALYZING TOPOGRAPHIC CHARACTERISTICSIN ADULTS' NORMAL CORNEAS AT HCMC EYE HOSPITAL
Bấm tải bài viết
Tạp chí Y học Thành phố Hồ Chí Minh,
7(3):50. DOI
Lượt xem: 146 Lượt tải PDF:
0
Tác giả
Phạm Nguyên Huân , Lê Minh Thông
Tóm tắt
MỤC TIÊU : Phân tích các dữ liệu có được từ máy đo bản đồ giác mạc ORBSCAN II trên giác mạc bình thường ở người trưởng thành 18-40 tuổi bằng cách phân tích bản đồ giác mạc theo độ chênh ở mặt trước và mặt sau giác mạc, bản đồ theo độ cong trục mặt trước giác mạc
ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP: Phân tích tiền cứu cắt ngang được thực hiện trên 476 mắt (282 cá thể) bằng cách đo bản đồ giác mạc với máy Orbscan II. Bản đồ độ chênh thẳng góc mặt trước và mặt sau giác mạc được phân loại thành kiểu bờ đều, bờ không đều, bờ không hoàn toàn, kiểu đảo và kiểu không xác định. Độ cong theo trục được phân thành 5 nhóm: tròn, bầu dục, nơ đối xứng, nơ không đối xứng và kiểu không xác định.
KẾT QUẢ : Độ cầu tương đương trung bình là -2.29 ± 1.38 D. Trị số K mô phỏng là 44.39 ± 1.50 và 43.42 ± 1.42 D. Có sự tương quan kém giữa độ cầu tương đương và công suất giác mạc vùng 3mm, 5mm, và 7mm. Từ trung tâm ra ngoại vi, công suất giác mạc giảm dần và tính không đều của giác mạc tăng dần ở cả mặt trước và mặt sau giác mạc.. Trong bản đồ độ chênh mặt trước, kiểu đảo chiếm đa số (42.7%), kế đến là kiểu bờ không hoàn toàn (38.2%), bờ đều (12.8%), bờ không đều (3.6%) và kiểu không xác định (2.7%). Trong bản đồ độ chênh mặt sau kiểu đảo cũng chiếm đa số (53.3%) kế đến là kiểu bờ không hoàn toàn (32.8 %), bờ không đều (9.7%), bờ đều (2.5%) và kiểu không xác định (1.7%). Kiểu nơ không đối xứng chiếm tỷ lệ cao nhất (33%) trong các bản đồ độ cong theo trục, sau đó là kiểu nơ đối xưng (24.6%) , bầu dục (18.1%), tròn (15.5%), và không xác định (8.8%)
KẾT LUẬN : Kết quả về độ chênh và độ cong giác mạc từ máy Orbscan ở giác mạc bình thường người trưởng thành giúp ta có một chuẩn để từ đó so sánh với các giác mạc bệnh lý.
Abstract
PURPOSE: To map the elevation (anterior and posterior corneal surface) and axial curvature of the normal corneas with the Orbscan topography system.
METHODS: Prospective study in 476 eyes of 282 normal subjects were investigated using the Orbscan II system. The anterior and posterior corneal elevation maps were classified into regular ridge, irregular ridge, incomplete ridge, island and unclassifed patterns, and the axial power maps were grouped into round, oval, symmetric bow-tie, asymmetric bow-tie, and irregular patterns.
RESULTS: The mean spherical equivalence (SE) is -2.29 ± 1.38 D The mean sumulated keratometry (Sim K) was 44.39 ± 1.50 and 43.42 ± 1.42 D. There's a poor correlation between SE and mean corneal power at 3mm, 5 mm, and 7mm zones. There was a decrease in the refractive power of the corneal and an increase in the irregularity from the center to the periphery of the cornea in both the anterior and posterior corneal surfaces. Island (42.7%) was the most common elevation pattern obserbved in the anterior corneal surface, followed by incomplete ridge (38.2%), regular ridge (12.8%), irregular ridge (3.6%) and unclassified (2.7%). Island(53.3%) was the most common topographic pattern in the posterior corneal surface, following by incomplete ridge(32.8 %), irregular ridge(9.7%), regular ridge(2.5%) and unclassified pattern (1.7%).Asymmetric bow-tie pattern was the most common axial power pattern in the anterior cornea (33%). Followed by symmetric bow-tie(24.6%) , oval (18.1%) , round (15.5%), and irregular pattern(8.8%)
CONCLUSIONS: The information on corneal elevation and axial corneal curvature obtained with the Orbscan corneal topography system from normal corneas provides a reference for comparision with disease corneas