Tạp chí Y học Thành phố Hồ Chí Minh, 7(4):489. DOI
Lượt xem: 165 Lượt tải PDF: 2
Nguyễn Hoàng Đức, Nguyễn Văn Hiệp
Mục tiêu: đánh giá tình hình phẫu thuật cắt bàng quang tận gốc để điều trị bướu bàng quang xâm lấn tại bệnh viện Bình Dân trong 5 năm từ 1998 - 2003 Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: hồi cứu hồ sơ bệnh án tất cả những trường hợp đã cắt bàng quang tận gốc đưa 2 niệu quản ra da do bướu bàng quang xâm lấn tại khoa Niệu bệnh viện Bình Dân từ tháng 1/1998 đến tháng 1/2003. Các mục tiêu quan tâm của nghiên cứu : yếu tố dịch tễ của bệnh nhân, giá trị của những phương tiện đánh giá giai đoạn bướu bàng quang, chỉ định mổ, kỹ thuật mổ, tai biến và biến chứng sớm của phẫu thuật. Thống kê thực hiện bằng SPSS 11.5 Kết quả: trong 5 năm, 99 bệnh nhân được cắt bàng quang tận gốc đưa 2 niệu quản ra da. Tuổi trung bình 68 ± 10.7 (nhỏ nhất : 39 tuổi ; lớn nhất : 92 tuổi) trong đó nam giới chiếm 81,8% (n=81). 89% (n=88) số bệnh nhân nhập viện do tiểu máu. 61.6% (n=61) bệnh nhân phát hiện bướu bàng quang lần đầu, 38.4% (n=38) bệnh nhân đã có tiền căn điều trị bướu bàng quang bằng cắt nội soi hoặc cắt bán phần bàng quang. Chụp điện toán cắt lớp (CT Scan) là phương tiện đánh giá bướu chính xác nhất. Chỉ định mổ bao gồm : bướu xâm lấn cơ bàng quang (17.1%), và bướu tái phát nhiều chỗ thất bại với điều trị bảo tồn bàng quang (82.9%). Trước mổ 65.7% bệnh nhân có chỉ số ASA = 1; 33.3% có ASA = 2 và chỉ 1% có ASA = 3. Thời gian mổ trung bình 128 phút ± 33 (ngắn nhất : 60 phút - lâu nhất : 220 phút) với lượng máu mất trung bình 337 mL ± 245 (ít nhất 110 mL - nhiều nhất 1700 mL). 35.3% bệnh nhân (n=35) phải truyền máu trong khi mổ. Có 3% trường hợp (n=3) được mổ cấp cứu do bướu xuất huyết. Bướu T2 chiếm 24.2% ; T3 chiếm 49.5% và T4 chiếm 26.3%. Tỷ lệ di căn hạch N1 là 16.2% và di căn xa M1 là 4%. Tai biến trong khi mổ chỉ gặp ở 1 trường hợp do thủng trực tràng. 17.2% (n=17) bệnh nhân phải truyền máu sau mổ. Thời gian hẫu phẫu trung bình 12 ngày ± 5 (4 - 34 ngày). Tỷ lệ biến chứng hậu phẫu khoảng 20.2% (n=20) chủ yếu là nhiễm trùng vết mổ. Tỷ lệ tử vong hậu phẫu là 1% (n=1). cắt bàng quang tận gốc là phương pháp điều trị tiêu chuẩn cho những trường hợp bướu bàng quang xâm lấn cơ, bướu lớn ăn lan đến cổ bàng quang hoặc bướu tái phát thất bại với điều trị bảo tồn bàng quang. Kỹ thuật mổ không quá khó, thời gian mổ và lượng máu mất trong khi mổ ở mức chấp nhận được. Tỷ lệ tử vong, tai biến cũng như biến chứng sau mổ tương đối thấp. Muốn đạt kết quả tốt và an toàn, nên sửa soạn bệnh nhân trước mổ thật tốt và không nên phẫu thuật cho những trường hợp có điểm ASA từ 3 đến 4.
Objectives : to evaluate experience of radical cystectomy in the treatment of invasive bladder cancer. Materials and methods: we retrospectively reviewed case-notes of 99 patients who had radical cystectomy and cutaneous ureterostomy done in Binh Dan Hospital from January of 1998 to January of 2003. End points of research were : patients' demography, means of tumor staging, indications, techniques and complications of surgery. Statistics used SPSS 11.5 Results : mean age of patients was 68 years old ± 10.7 (range from 39 to 92 yo) among them 81.8% were male. 89% of patients had grossly haematuria and 61.6% did not have past history of bladder tumors. CT scan is the best method for preoperative staging. Indications of surgery include : muscle invasive, multi focal tumors and failure of conservative treatments. 99% of patients had ASA index of 1 or 2 preoperatively. Mean operation time was 128 minutes ± 33 (range from 60 to 220 minutes) with a mean blood loss of 337 mL ± 245 (range from 110 to 1700 mL). Rectal injury happened in one case. Mean hospital stay was 12 days ± 5 (range from 4 to 34 days). Post-op mortality rate was 1%. Conclusion : radical cystectomy is a standard treatment for invasive baldder cancers. The operation is safe and easy to perform.