Nghiên cứu Y Học
INFLUENCE OF THE POSTWASH TOTAL MOTILE SPERM COUNT ON THE SUCCESS OF INTRAUTERINE INSEMINATION (IUI)
Bấm tải bài viết
Tạp chí Y học Thành phố Hồ Chí Minh,
13(2):43. DOI
Lượt xem: 157 Lượt tải PDF:
1
Tác giả
Dương Khuê Tú, Cổ Phí Thị Ý Nhi, Hoàng Thị Diễm Tuyết
Tóm tắt
Giới thiệu: Bơm tinh trùng vào buồng tử cung (Intrauterine insemination - IUI) là một phương pháp điều trị vô sinh được áp dụng rất nhiều đối với các trường hợp thiểu nhược tinh. Hiệu quả của IUI phụ thuộc vào nhiều yếu tố, trong đó phải kể đến chất lượng tinh trùng. Mục tiêu nghiên cứu của chúng tôi là đánh giá mối liên quan giữa số lượng tinh trùng di động sau lọc rửa và hiệu quả của IUI.
Phương pháp thực hiện: Đây là nghiên cứu thống kê mô tả, được thực hiện trên 806 chu kỳ IUI tại bệnh viện Từ Dũ từ tháng 1.2007 tới tháng 12.2008 với chỉ định IUI chỉ do nguyên nhân thiểu nhược tinh (được đánh giá theo tiêu chuẩn của WHO). Bệnh nhân được kích thích buồng trứng bằng clomiphene citrate, hMG hoặc FSH tái tổ hợp, có thể kèm GnRH agonist. Bơm tinh trùng được thực hiện sau tiêm hCG 36-40 giờ. Tiêu chuẩn đánh giá là tỉ lệ thai lâm sàng/chu kỳ.
Kết quả: Tỉ lệ thai lâm sàng nói chung trên chu kỳ là 12,8%. Khi tổng số tinh trùng di động sau lọc rửa < 5x 106, tỉ lệ thai lâm sàng là 10,5%, thấp hơn có ý nghĩa thống kê so với tỉ lệ thai lâm sàng của các trường hợp tinh trùng di động sau lọc rửa ≥ 5 x106 (13,1%) (p<0,05).
Kết luận: Khi thực hiện bơm tinh trùng vào buồng tử cung đối với các trường hợp thiểu nhược tinh, tỉ lệ thành công tăng đáng kể khi số lượng tinh trùng di động sau lọc rửa ≥ 5 x106. Điều này góp phần tiên lượng và tư vấn cho bệnh nhân trước khi điều trị.
Abstract
Background: Intrauterine insemination has been widely applied for the treatment of oligoasthenospermia. The outcome of IUI depends on many factors including the semen parameters. Our objective is defining the influence of the postwash total motile sperm count on the success of IUI.
Methods: This is a descriptive retrospective study comprising 806 IUI cycles at Tu Du hospital from January 2007 to December 2008. The indication for IUI was only oligoasthenospermia (evaluated according to the WHO standard criteria). All IUI cycles were preceded by ovarian stimulation with clomiphene citrate, hMG or recombinant FSH, with or without GnRH agonist. The IUI was performed 36-40 hours after hCG injection. The main outcome measure was the clinical pregnancy rate/cycle.
Results: The overall clinical pregnancy rate/cycle was 12.8%. When the postwash total motile sperm count (TMC) was < 5x 106, the clinical pregnancy rate/cycle was 10.5%, significantly lower than in the group with the postwash TMC ≥ 5 x106 (13.1%) (p<0.05).
Conclusions: The outcome of IUI used for treating oligoasthenospermia is significantly improved when the postwash TMC ≥ 5 x106. This contributes to prognosis and counseling IUI patients before treatment.