Tạp chí Y học Thành phố Hồ Chí Minh, 7(4):394. DOI
Lượt xem: 138 Lượt tải PDF: 0
Phạm Văn Bùng, Phạm Quốc Cường, Nguyễn Minh Hùng, Nguyễn Văn Tiến, Nguyễn Hữu Chỉnh, Tạ Thanh Liêu, Võ Thanh Nhân, Trần Thị Diễm Trang, Phùng Thị Phương Chi, Nguyễn Quốc Trực
Qua công trình tiền cứu 108 trường hợp ung thư nội mạc tử cung được điều trị tại Khoa Ngoại I bệnh viện Ung Bướu thành phố Hồ Chí Minh từ 1/2001 - 6/2003, chúng tôi ghi nhận : Tuổi mắc bệnh trung bình là 55, đa số đã mãn kinh 60%, tỉ lệ dùng thuốc ngừa thai 5%, cao huyết áp 18%, tiểu đường 5%, mập phì 26%, triệu chứng xuất huyết âm đạo bất thường 84%, chẩn đoán xác định bằng nạo lòng tử cung sinh thiết 98% và loại carcinôm tuyến 95%. Xếp giai đoạn phẫu thuật : giai đoạn I 56%, giai đoạn II 16%, giai đoạn III 19% và IV 9%. Tỉ lệ di căn hạch chậu là 8,7%, có mối tương quan giữa di căn hạch chậu với độ xâm lấn thành tử cung. Chỉ nạo hạch chậu khi ung thư xâm lấn ra 1/2 ngoài cơ tử cung hoặc lúc mổ sờ có hạch chậu.
A prospective study of 108 endometrial cancer cases treated in Surgery Department I Ho Chi Minh City Cancer Hospital from January 2001 to June 2003, we have some remarks : Average age 55, mostly menopaused 60%, oral contraceptive pill usage 5%, hypertension 18%, diabetes 5%, obesity 26%, abnormal vaginal bleeding 84%, positive uterine curettage biopsy in 98% and adenocarcinoma 95%. Surgical staging : stage I 56%, stage II 16%, stage III 19% and stage IV 9%. Pelvic node metastasis 8,7%. There is a statistical relation between uterine wall invasion and pelvic node metastasis. Pelvic node dissection is performed only when 1/2 outer part of the uterine wall is invaded or pelvic nodes are palpaple.