NGOẠI TỔNG QUÁT
PYLORIC STENOSIS - DIAGNOSIS AND TREATMENT
Bấm tải bài viết
Tạp chí Y học Thành phố Hồ Chí Minh,
10(1):26. DOI
Lượt xem: 197 Lượt tải PDF:
2
Tác giả
Trần Thiện Trung
Tóm tắt
Mục tiêu: Đánh giá tình hình hiện nay trong việc chẩn đoán và điều trị hẹp môn vị do loét và do ung thư.
Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu hồi cứu, trong thời gian hơn 4 năm (1/ 2001 - 5/2005), tại Bệnh viện Đại học Y Dược TP. Hồ Chí Minh có 39 bệnh nhân hẹp môn vị, 35 được đưa vào diện nghiên cứu: 23 hẹp môn vị do ung thư và 12 do loét.
Kết quả: Chẩn đoán hẹp môn vị dựa trên các dấu hiệu lâm sàng là đau bụng, nôn ói, và sụt cân. Các dấu hiệu thực thể (ngoại trừ u bụng - 11/23 do ung thư) không đầy đủ và điển hình. X quang dạ dày chẩn đoán: 100% (23/23) trường hợp hẹp do ung thư, và 91.7% (11/12) do loét. Nội soi dạ dày được chỉ định trong 86.9% (20/23) hẹp do ung thư, và 58.4% (7/12) do loét. Điều trị hẹp môn vị với các phương pháp: cắt dạ dày bán phần - 83.3% (10/12) do loét (trong đó có 1 mổ nội soi); và 78.3% (18/23) trường hợp do ung thư (12 kèm nạo hạch và 6 cắt làm sạch). Nối vị tràng: 4/23 do ung thư và 2/12 do loét. Mở thông hỗng tràng nuôi ăn: hẹp môn vị do ung thư giai đoạn muộn:1.
Kết luận: Chẩn đoán hẹp môn vị dựa trên các dấu hiệu lâm sàng, nhưng X quang và nội soi dạ dày là phương tiện đóng vai trò chủ yếu. Hẹp môn vị là cấp cứu ngoại khoa có trì hoãn và cắt dạ dày trong điều kiện có thể được là phương pháp điều trị hợp lý cần ưu tiên lựa chọn.
Abstract
Background: To evaluate the diagnosis and treatment of pyloric stenosis. Methods: Retrospective study. In the period of more than 4 years (1/2001 to 5/2005) at University Medical Center Ho Chi Minh city, there were 39 patients with pyloric stenosis. 35 patients of these were included in our study: 23 cases due to gastric cancer and 12 cases due to peptic ulcer.
Results: Diagnosis of pyloric stenosis was mainly achieved with clinical symptoms: abdominal pain, vomiting, and weight loss. On physical examination, there was no characteristic signs (except for abdominal tumors found in 11/23 cases with gastric cancer). Barium study showed the diagnostic signs in 100% cases of pyloric stenosis due to gastric cancer, and 91.7% (11/12) cases due to peptic ulcer. Esophagogastric Endoscopy was indicated in 86.9% (20/23) cases with gastric cancer and 58.4% (7/12) cases with peptic ulcer. Surgical treatment for pyloric stenosis was as follows: subtotal gastrectomy performed in 83.3% (10/12) cases with peptic ulcer (including 1 patient undergone laparoscopic gastrectomy); and in 78.3% (18/23) cases with gastric cancer (12 with lymph node dissection and 6 cases palliative gastrectomy). Gastrojejunostomy was carried out in 4/23 cases with gastric cancer and 2/12 cases with peptic ulcer. And, Jejunostomy was indicated in one patient with pyloric stenosis due to gastric cancer.
Conclusion. Diagnosis of pyloric stenosis was suggested from clinical symptoms, whereas barium study as well as gastroenoscopy played more critical role. Treatment approach to pyloric stenosis should be a delayed surgical emergency. Subtotal gastrectomy was the best choice of surgical treatment for pyloric stenosis.