Nghiên cứu Y Học
TREATMENT CANALICULAR OBSTRUCTION WITH CONJUNCTIVODACRYOCYSTORHINOSTOMY
Bấm tải bài viết
Tạp chí Y học Thành phố Hồ Chí Minh,
12(4):222. DOI
Lượt xem: 172 Lượt tải PDF:
0
Tác giả
Nguyễn Thanh Nam, Lê Minh Thông
Tóm tắt
Mục đích: Đánh giá kết quả điều trị tắc lệ quản ngang bằng phẫu thuật nối thông hồ lệ mũi với ống Jones và phẫu thuật nối thông hồ lệ mũi với ghép sụn kết mạc mi trên.
Phương pháp: Nghiên cứu thử nghiệm lâm sàng không ngẫu nhiên có đối chứng trên 24 bệnh nhân. Bệnh nhân được theo dõi sau mổ 1 tuần, 1 tháng, 3 tháng, 6 tháng và 9 tháng. Kết quả được đánh giá dựa vào tiêu chuẩn: chảy nước mắt, thử nghiệm Jones I và bơm rửa ống.
Kết quả: Tỉ lệ thành công trong lô nghiên cứu dùng sụn kết mạc trong phẫu thuật nối thông hồ lệ mũi là 66,7%, không có biến chứng do sự di chuyển của ống. Tỉ lệ thành công trong lô chứng là 25%, 100% bệnh nhân trong lô chứng điều bị biến chứng.
Kết luận: Phẫu thuật nối thông hồ lệ mũi với sụn kết mạc mi trên đã hạn chế được biến chứng do sự di chuyển của ống gây nên. Có thể xem đây là một thành công của phẫu thuật nhưng cần nghiên cứu với số lượng lớn hơn và thời gian lâu hơn.
Abstract
Objectives: To control the canalicular obstructions treatment by using Jones tubes or tarsoautoconjunctival autograft in conjunctivldacryocystorhinostomy. Method: A control non-randomized clinical trial was performed 24 patients. The patients were followed 1 week, 1 month, 3 months, 6 months 9 months postoperation. Results were evaluated on 3 criteria: epiphora, Jones I dye test, injective Jones tube.
Results: The conjunctivodacryocystorhinostomy with using tarsoconjunctival autograft had high successful rate (66.7%) compared to control (25%) and no complication for hypermobiling of Jones tube. All control group patients had complication.
Conclusions: Conjunctivodacryocystorhinostomy with tarsoconjunctival graft limited the complication for hypermobiling of Jones. Studies with larger population and longer follow-up should be undertaken to confirm the advantages of the technique.