Tạp chí Y học Thành phố Hồ Chí Minh, 7(4):206. DOI
Lượt xem: 156 Lượt tải PDF: 0
Nguyễn Quang Thái, Đoàn Hữu Nghị
Nghiên cứu tiền cứu 153 bệnh nhân ung thư biểu mô tuyến đại tràng được phẫu triệt căn tại Bệnh viện K từ 1998 đến 2001 chúng tôi thấy: Có 77/153 (50,3%) bệnh nhân bị di căn hạch. Có 25/153 (19,6%) bệnh nhân có tình trạng di căn hạch nhẩy cóc. Trong số 153 bệnh phẩm, phẫu tích được tổng số 2986 hạch lympho, trung bình mỗi bệnh phẩm 19,5 (1,6 hạch; có 383 hạch di căn, tỷ lệ di căn chung là 12,8%. Những hạch có đặc điểm bề ngoài như: màu trắng hoặc loang lổ, mật độ chắc hoặc cứng và kích thước trên 1cm có tỷ lệ di căn cao, còn các hạch có màu hồng, mật độ mềm, kích thước dưới 1 cm thường có tỷ lệ di căn ít hơn, sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê với p < 0,05. Các đặc điểm mầu sắc và mật độ của hạch bạch huyết thông qua quan sát và thăm khám bằng tay trong khi mổ là các đặc điểm hình thái có giá trị tiên lượng khả năng di căn của hạch. Những bệnh nhân có hạch biến đổi mầu sắc trắng, loang lổ; mật độ chắc, cứng có nguy cơ bị di căn hạch trên 80%. Những bệnh nhân có hạch mầu hồng, mật độ mềm bình thường, có 60% đến 70% khả năng không bị di căn hạch.
A prospective study was made of 153 patients who had radically resections of the colon for adenocarcinoma at K Hospital between 1998 and 2001. Positive lymph node occurred in 71/153 of patients (50,3%). Skip movement" node metastases showed in 25/153 of patient (19,6%). 2986 lymph nodes of 153 surgically specimens was analysed. Mean of number of node per specimen is 19,5 (1,6. Metastases presented in 383 nodes (12,8%). The nodes with gross finding features: white, hard were more frequency metastases than: pink, soft (p<0,05). At the time of operation, with the expertized surgical observation, the color and density of lymph nodes were prognostic factors to estimate in metastases probability.