HO CHI MINH CITY JOURNAL OF MEDICINE
banner
Nghiên cứu Y Học

HIỆU QUẢ LÀM DÍNH MÀNG PHỔI BẰNG TALC CỦA 67 TRƯỜNG HỢP TRÀN KHÍ MÀNG PHỔI TỰ PHÁT NGUYÊN PHÁT SAU THỜI GIAN THEO DÕI 2 - 4 NĂM

THE EFFECT OF PLEURODESIS BY TALC OF 67 CASES OF PRIMARY SPONTANEOUS PNEUMOTHORAX IN A 2 - 4 YEAR MONITORING PERIOD

Bấm tải bài viết

Tạp chí Y học Thành phố Hồ Chí Minh, 11(1):16. DOI

Lượt xem: 197 Lượt tải PDF: 1

Tác giả

Ngô Thanh Bình

Tóm tắt

Mục tiêu: Đánh giá hiệu quả và độ an toàn của làm dính màng phổi bằng talc của 67 trường hợp tràn khí màng phổi (TKMP) tự phát nguyên phát sau thời gian theo dõi 2 - 4 năm.
Phương pháp nghiên cứu: cắt ngang phân tích
Kết quả: Sau 2 - 4 năm theo dõi 67 trường hợp TKMP tự phát nguyên phát được làm dày dính màng phổi bằng dung dịch talc bơm qua ống dẫn lưu, có 56 trường hợp (83,6%) là nam giới, 11 trường hợp (16,4%) là nữ giới, tỉ lệ mắc bệnh nam:nữ là 5,09:1, tuổi trung bình là 28,7. (từ 17 - 45 tuổi). Có 59 trường hợp (88,06%) TKMP lượng nhiều và 100% trường hợp TKMP xảy ra ở một bên phổi, bên phải gặp nhiều hơn bên trái (67,16% so với 32,84%). Tỉ lệ thành công của bơm talc làm dính màng phổi là 88,01% cho lần bơm talc thứ nhất và 100% cho lần thứ hai, với thời gian trung bình lưu ống dẫn lưu sau bơm bột talc là 3,15 ngày (giới hạn từ 1 - 21 ngày). Tỉ lệ TKMP tái phát sau thời gian theo dõi 2 - 4 năm là 10,45%. Ba biến chứng sớm thường gặp là đau ngực (53,73%), sốt (28,36%) xảy ra trong vòng 4 giờ đầu tiên và ho khan (31,34%) xảy ra trong 4 - 12 giờ sau bơm talc màng phổi. Biến chứng muộn (38,81%) thường gặp trong thời gian theo dõi 2 - 4 năm là đau ngực và cảm giác khó thở khi gắng sức, nhưng không gây ảnh hưởng đáng kể đến sinh hoạt và làm việc hàng ngày của bệnh nhân. Đồng thời, chúng tôi không ghi nhận xảy ra những biến chứng trầm trọng (suy hô hấp cấp, tụt huyết áp, mủ màng phổi,... kể cả tử vong) sau bơm dung dịch talc làm dính màng phổi.
Kết luận: Làm dày dính màng phổi bằng talc hiệu quả cao và an toàn trong điều trị tràn khí màng phổi tự phát nguyên phát.

Abstract

Objective: to evaluate the effect and safe of pleurodesis by talc of 67 cases of primary spontaneous pneumothorax in a 2 - 4 year monitoring period.
Method: analytical crossed sectional study
Result: In a 2 - 4 year monitoring period, 67 cases of primary spontaneous pneumothorax were performed pleurodesis by inserting talc suspension through drainage chest tube. There were 56 male (83.6%) and 11 female (16.4%) patients. The incidence ratio of male / female was 5.09 / 1. The average age was 28.7 (range, 17 to 45). There were 59 cases of large pneumothorax (88,06%), and 100% cases of pneumothorax occurred at an unilateral lung, more in right side than in left side (67,16% versus 32,84%). Rate of success of talc pleurodesis was 88.01% in the first time and 100% in the second time, with an average duration of drainage chest tube was 2.94 days (range, 1 to 21). A 2 - 4 year monitoring period after talc pleurodesis, there was 10.45% cases with recurrent pneumothorax. Three early complicated symptoms were chest pain (53.73%), fever (28.36%) in the first four- hour time and cough (31.34%) in a 4 - 12 hour time after talc pleurodesis. The late complications (38.81%) in a 2 - 4 year monitoring period were chest pain and dypsnea, only occurred after working more, but they didn't influence patient's activities significantly. Simultaneously, we haven't detected any severe complications (acute respiratory failure, hypotension, and empyema...even death) after talc pleurodesis.
Conclusion: Pleurodesis by talc was high effective and safe in the treatment of primary spontaneous pneumothorax.