Nghiên Cứu Y Học
INITIAL RESULTS OF PHACOEMULSIFICATION FOR MANAGEMENT OF CATARACT IN MODERATELY AND HIGHLY MYOPIC PATIENTS
Bấm tải bài viết
Tạp chí Y học Thành phố Hồ Chí Minh,
7(3):16. DOI
Lượt xem: 177 Lượt tải PDF:
6
Tác giả
Trần Thị Phương Thu, Phạm Thị Bích Thủy
Tóm tắt
MỤC TIÊU: Đánh giá hiệu quả và tính an toàn của phẫu thuật nhũ tương hóa điều trị đục thể thủy tinh ở người cận thị trung bình và cận thị nặng. Nơi tiến hành: Khoa Bán Công Kỹ Thuật Cao, bệnh viện Mắt TP Hồ Chí Minh. PHƯƠNG PHÁP: nghiên cứu can thiệp tiền cứu này gồm 44 mắt của 32 bệnh nhân đục thể thủy tinh cận thị trung bình và cận thị nặng, tuổi từ 40 đến 60, trục nhãn cầu từ 26 mm trở lên, được một bác sỹ (TTPT) phẫu thuật nhũ tương hóa lấy thể thủy tinh và đặt kính nội nhãn. Khúc xạ mục tiêu sau mổ để đạt chính thị hoặc cận thị nhẹ. Thời gian theo dõi hậu phẫu từ 6 tháng trở lên. Ghi nhận thị lực không kính và có chỉnh kính sau mổ, các biến chứng trong mổ và sau mổ. KẾT QUẢ: sau mổ thị lực không kính và có chỉnh kính trung bình 0.51 và 0.72 ở 1 tháng, 0.58 và 0.81 sau 3 tháng, 0.62 và 0.72 sau 6 tháng, 0.55 và 0.71 ở lần khám sau cùng. Tỷ lệ đạt thị lực không kính và có chỉnh kính ³ 0.5 là 58,6% và 78,8% sau mổ 1 tháng, 78,1% và 86,2% sau 3 tháng, 66,7% và 76,5% sau 6 tháng, 65,9% và 77,3% ở lần khám cuối cùng. Không có biến chứng trong mổ. Tăng nhãn áp sau mổ xảy ra ở 1 mắt (2,4%). Xuất huyết dịch kính xảy ra ở 1 mắt (2,4%). Hiện tượng méo hình xảy ra ở 1 mắt (2,4%). KẾT LUẬN: phẫu thuật nhũ tương hóa điều trị đục thể thủy tinh ở người cận thị là cách điều trị hiệu quả đục thể thủy tinh và cận thị, nhất là cận thị nặng, giúp phục hồi thị giác tốt. Tuy nhiên cần có thời gian theo dõi lâu dài và mẫu nghiên cứu lớn hơn để đánh giá các biến chứng muộn.
Abstract
PURPOSE: to evaluate the efficacy and safety of phacoemulsification in management cataract in moderately and highly myopic patients. Setting: Hitec center, Ho Chi Minh city Eye Hospital. METHODS: This prospective interventional study includes 44 cataract eyes of 32 moderately and highly myopic patients of age from 40 to 60, with axial length 26mm and above. Phacoemulsification and posterior chamber intraocular lens implantation was performed by one surgeon (TTPT). The postoperative refractive target was emmetropia or a low degree of myopia. The follow-up was 6 months and above. Postoperative uncorrected visual acuity (UCVA) and best corrected visual acuity (BCVA), postoperatve complications were recorded. RESULTS: postoperative UCVA and BCVA were respectively 0.51 and 0.72 at 1 month, 0.58 and 0.81 at 3 month, 0.62 and 0.72 at 6 month, 0.55 vaø 0.71 at the final evaluation. The proportion of eyes with postoperative UCVA and BCVA ³ 0.5 was respectively 58,6% and 78,8%at 1 month, 78,1% and 86,2% at 3 month, 66,7% and 76,5% at 6 month, 65,9% and 77,3% at the final evaluation. No intraoperative complication occurred. Early postoperative high intraocular pressure happened in one eye (2,4%), vitreoushemorrhage in one eye (2,4%) and metamorphopsia in one eye (2,4%). CONCLUSION: phacoemulsification in management cataract in myopic patients is an effective method, espescially in severe myopia, helping people over 40 years of age regain vision. However, longer follow-up at the larger of cases is needed to fully assess posible complications.