HO CHI MINH CITY JOURNAL OF MEDICINE
banner
Nghiên Cứu Y Học

ĐIỀU TRỊ TĂNG ÁP ĐỘNG MẠCH PHỔI SAU PHẪU THUẬT TIM: KINH NGHIỆM TỪ ILOPROST VÀ SILDENAFIL

MANAGEMENT OF PULMONARY HYPERTENSION AFTER CARDIAC SURGERY: EXPERIENCES FROM ILOPROST AND SILDENAFIL

Bấm tải bài viết

Tạp chí Y học Thành phố Hồ Chí Minh, 15(3):133. DOI

Lượt xem: 210 Lượt tải PDF: 0

Tác giả

Lê Trung Hiếu

Tóm tắt

Cơn tăng áp động mạch phổi là 1 trong những yếu tố nguy cơ cao góp phần làm gia tăng tỷ lệ bệnh tật và tử vong cho các bệnh nhân sau phẫu thuật tim, nhất là các trẻ nhỏ mắc bệnh tim bẩm sinh. Iloprost và Sildenafil gần đây đã được công nhận như là những thuốc dãn mạch phổi dùng trong điều trị tăng áp phổi. Mục tiêu: nhằm đánh giá hiệu quả phối hợp của iloprost và sildenafil trong điều trị tăng áp phổi sau phẫu thuật tim. Phương pháp: Chúng tôi tổng kết 50 ca hậu phẫu tim có tăng áp phổi, sử dụng phối hợp Iloprost và Sildenafil theo guidelines của ACCP. Trong đó có 40 trường hợp trẻ em được điều trị với iloprost truyền tĩnh mạch, 10 trường hợp trẻ được điều trị với iloprost phun khí dung. Dùng phép kiểm t student ghép cặp để so sánh sự khác biệt về áp lực phổi trước và sau khi dùng iloprost. Kết quả: nhóm iloprost truyền tĩnh mạch áp lực động mạch phổi trung bình giảm từ 42 ± 5mmHg xuống còn 30,5 ± 4,6mmHg (p<0,05). Trong khi đó, huyết áp trung bình của bệnh nhân giảm từ 67,5 ± 4,5mmHg xuống còn 56,6 ± 6,25mmHg (p<0,05). Nhóm iloprost phun khí dung: áp lực động mạch phổi trung bình giảm từ 42 ± 5mmHg xuống còn 32,2 ± 6,4 mmHg (p<0,05). Trong khi đó, huyết áp trung bình của bệnh nhân giảm từ 65,5 ± 5,45mmHg xuống còn 61,5 ± 3,25mmHg (p<0,05). Kết luận: iloprost cả dạng truyền tĩnh mạch và dạng phun khí dung đều chứng tỏ có hiệu quả trong điều trị tăng áp phổi sau mổ. Việc phối hợp Iloprost và Sildenafil đúng cách sẽ mang lại hiệu quả khá tốt trên lâm sàng, nhất là các bệnh nhân sau phẫu thuật tim có tăng áp phổi.

Abstract

Pulmonary hypertension crisis (PHC) is one of high rish factors which increases morbility and mortality in perioperative cardiac patients. Recently, Iloprost and Sildenafil have approved as pulmonary vasodilators and used in treatment of pulmonary hypertension. Objectives: evaluating effectiveness in combination Iloprost and Sildenafil in management PAH after cardiac surgery. Methods: Our review on 50 cardiac surgery cases with pulmonary hypertension, treated with iloprost and silldenafil according to ACCP guidelines. 40 cases treated with intravenous iloprost, 10 cases treated with inhaled iloprost. The paired Student's t test was used to compare the pulmonary aterial pressure differences between pre and post iloprost treatment. Results: in intravenous iloprost group, mPAP decreases from 42 ± 5mmHg to 30,5 ± 4,6mmHg (p<0,05), MAP decreases from 67,5 ± 4,5mmHg to 56,6 ± 6,25mmHg (p<0,05). In inhaled iloprost group, mPAP decreases from 42 ± 5mmHg to 32,2 ± 6,4 mmHg (p<0,05), MAP decreases from 65,5 ± 5,45mmHg to 61,5 ± 3,25mmHg (p<0,05). Conclusion: both of intravenous and inhaled iloprost are effectively in treatment of perioperative pulmonary hypertension crisis. Combination of iloprost and sildenafil will bring good results in control of pulmonary hypertension.