HO CHI MINH CITY JOURNAL OF MEDICINE
banner
Nghiên cứu

TÍNH AN TOÀN CỦA ĐIỀU TRỊ PHÒNG NGỪA TÁI PHÁT TRÀN KHÍ MÀNG PHỔI TỰ PHÁT BẰNG BƠM TALC NHŨ TƯƠNG QUA ỐNG DẪN LƯU MÀNG PHỔI: BÁO CÁO 75 TRƯỜNG HỢP

THE SAFETY OF TALC SLURRY PLEURODESIS FOR TREATMENT FOR SPONTANEOUS PNEUMOTHORAX: REPORT OF 75 CASES

Bấm tải bài viết

Tạp chí Y học Thành phố Hồ Chí Minh, 9(1):113. DOI

Lượt xem: 247 Lượt tải PDF: 3

Tác giả

Nguyễn Hữu Lân, Nguyễn Huy Dũng, Trần Ngọc Thạch, Hoàng Thị Quy

Tóm tắt

Mục tiêu: Talc là tác nhân hóa học thường được dùng để làm dày dính màng phổi, có hiệu quả cao, được dung nạp tốt. Tuy có vài báo cáo về hội chứng nguy ngập hô hấp cấp tính liên quan đến sự an toàn của thủ thuật này, nhưng khoa chúng tôi (khoa bệnh hô hấp nam, bệnh viện Phạm Ngọc Thạch, thành phố Hồ chí Minh, Việt Nam) đã quyết định sử dụng talc nhũ tương làm dày dính màng phổi theo khuyến cáo điều trị tràn khí màng phổi tự phát của Hội Bác Sĩ Lồng ngực Hoa Kỳ năm 2001.
Phương pháp: Nghiên cứu tiền cứu được thực hiện trên 75 trường hợp tràn khí màng phổi tự phát, được làm dày dính màng phổi bằng talc nhũ tương tại khoa bệnh hô hấp nam, bệnh viện Phạm Ngọc Thạch. Mục đích nghiên cứu là đánh giá tất cả các biến chứng xảy ra trong vòng 96 giờ sau khi bơm talc nhũ tương vào khoang màng phổi.
Kết quả: Có 75 lần làm dày dính màng phổi bằng talc trên 75 bệnh nhân tràn khí màng phổi tự phát. Tác dụng phụ bao gồm đau ngực (n = 65; 86,67%), khó thở (n = 40; 53,33%), sốt > 380C (n=13; 17,33%), nhịp tim nhanh > 100 lần/phút (n=20; 26,67%). Không có biến chứng giảm oxy máu, giảm huyết áp, hội chứng nguy ngập hô hấp cấp tính và tử vong.
Kết luận: Kết quả nghiên cứu gợi ý rằng bơm talc nhũ tương vào khoang màng phổi là thủ thuật hữu ích trong điều trị tràn khí màng phổi tự phát. Không có tử vong liên quan đến thủ thuật.

Abstract

Objective: Talc is a highly efficacious and commonly employed agent for chemical pleurodesis, which has generally been felt to be well tolerated. Some reports of acute respiratory distress syndrome (ARDS) have heightened safety concerns, but our department (Department of Respiratory Medicine for men, Pham Ngoc Thach Hospital, Ho Chi Minh city, Viet Nam) made a decision to use talc slurry for pleurodesis according to an American College of Chest Physicians Delphi Consensus Statement in 2001 for management of spontaneous pneumothorax.
Methods: A prospective study was carried out on 75 case spontaneous pneumothorax who received talc slurry pleurodesis at Department of Respiratory Medicine for men, Pham Ngoc Thach Hospital. The purpose of the study is to evaluate all complications occurring within 96 h the procedure.
Results: Seventy-five talc pleurodeses were performed on 75 patients spontaneous pneumothorax. Side effects included pain (n = 65; 86,67%), dyspnea (n = 40; 53,33%), fever > 380C (n=13; 17,33%), 113tachycardia > 100 b.p.m. (n=20; 26,67%). There were no complications of hypoxemia, hypotension, ARDS and death.
Conclusions: These results suggest that intrapleural administration of talc slurry is a useful treatment for spontaneous pneumothorax. There were no procedures-related death.