Nghiên Cứu Y Học
EARLY OBSERVATION ON EFFECTIVENESS OF HOLMIUM LASER URETEROSCOPIC FRAGMENTATION FOR RENAL STONES REALIZED AT TRUNG VUONG EMERGENCY HOSPITAL
Bấm tải bài viết
Tạp chí Y học Thành phố Hồ Chí Minh,
14(2):112. DOI
Lượt xem: 195 Lượt tải PDF:
0
Tác giả
Đoàn Trí Dũng
Tóm tắt
Mục tiêu: Nhằm đánh giá những khó khăn khi thực hiện nội soi niệu quản trong điều trị sỏi thận, kết quả và biến chứng trong điều trị sỏi thận bằng tán sỏi qua nội soi niệu quản bể thận.
Tư liệu và phương pháp nghiên cứu: Tổng cộng 13 trường hợp sỏi bể thận 20 mm hay lớn hơn được tán sỏi qua nội soi niệu quản ngược dòng. Tán sỏi được thực hiện bằng ống soi cứng và mềm với dây tán laser 200µ, 365µ, 600 µ. Bệnh nhân sẽ được nội soi niệu quản lại nếu còn sót sỏi lớn không thể tống xuất tự nhiên. Bệnh nhân được coi là sạch khi không còn cặn sỏi hay còn mảnh sỏi < 3mm trên phim bộ niệu không chuẩn bị và siêu âm.
Kết quả: Có tổng cộng 13 sỏi bể thận có kích thước trung bình 23,38 mm (20-30 mm) trong đó có 3 trường hợp có kèm theo sỏi đài dưới 69% sạch sỏi sau 1 lần tán, 77% sạch sỏi sau 2 lần tán. Không có biến chứng nặng, chỉ có 1 trường hợp sốt do thoát dịch quanh thận nhưng bệnh nhân này đã có hiện tượng này trước khi tán sỏi.
Kết luận: Nội soi niệu quản ngược dòng để điều trị sỏi thận lớn có thể là một phương pháp thay thế tán sỏi qua da ống soi bán cứng trong nội soi niệu quản khi có thể tiếp cận được sỏi bể thận dễ dàng. Ống soi mềm với kích thước nhỏ và hệ thống tán laser Holmium cho phép tán sỏi ở tất cả các vị trí bên trong thận. Nội soi niệu quản được coi là phương pháp ít gây biến chứng ngay cả đối với những bệnh nhân có nguy cơ. Kết quả sạch sỏi qua nội soi niệu quản gần tương đương với tán sỏi qua da nhưng phải nội soi niệu quản nhiều lần.
Abstract
Objective: We aim at evaluating difficulties in performing ureteroscopy when treating renal stones, results and complications in the treatment of renal stones by ureteroscopy.
Materials and methods: there are totally 13 cases of pelvic stones whose sizes are 20 mm or greater. They are treated with retrograde ureteroscopy. Lithtripsy is realized by means of either semirigid or flexible ureteroscope or both with laser fibers 200 µ, 365 µ or 600 µ. Second ureteroscopy will be done if big stones still remain and spontaneous passage does not happen. Patients are considered stone-free when there are no residual stones or fragments less than 3 mm in plain standard Xray or ultrasound.
Results: 13 cases of pelvic stones with average size 23.38 mm (20-30 mm) in which there are 3 cases associated with inferior calyceal stones. 69% of cases are stone-free after one procedure, 77% after second procedure. There is no serious complication except fever due to extravasation in one case. Note: the extravasation also happened before intervention.
Conclusions: Retrograde ureteroscopy may be an alternative for percutaneous lithotomy. Semirigid uteroscopes may give easier access to pelvic stones. Small-sized flexible uteroscopes and Holmium Laser lithotripsy system permit breaking almost stones inside the kidney. Ureteroscopy safety is evident even in patients at risk. Though multiple procedures needed in some cases, stone-free rate of ureteroscopy are comparable to that of percutaneous lithotomy.