Nghiên cứu Y Học
VISION SCREENING AND THE FREE SPECTACLES PROGAM FOR THE POOR SCHOOLCHILDREN IN HCMC, VIETNAM
Bấm tải bài viết
Tạp chí Y học Thành phố Hồ Chí Minh,
13(1):5. DOI
Lượt xem: 145 Lượt tải PDF:
0
Tác giả
Lê Thi Thanh Xuyên, Bùi Thị Thu Hương, Phí Duy Tiến, Nguyễn Hoàng Cẩn, Trần Thị Minh Nguyệt, Huỳnh Chí Nguyễn
Tóm tắt
Mục tiêu: Đánh giá hiệu quả của chương trình sàng lọc tật khúc xạ và cấp kính miễn phí cho học sinh nghèo tại TP. HCM.
Phương pháp tiến hành: Khảo sát tiến cứu, cắt dọc, so sánh đối chứng, có can thiệp. 618 HS gồm 446 HS lớp 6 và 172 HS lớp 10 của các trường cấp 2,3 tại quận 4, quận Gò vấp, quận Thủ đức, Bình chánh (TP. HCM).Thị lực không kính 1 hoặc cả 2 mắt < 6/10. Được nhà trường hoặc địa phương nơi sinh sống xác nhận tình trạng nghèo. Những HS có TL không kính hoặc có kính ≤ 5/10 ở 1 mắt hoặc 2 mắt, tăng sau khi đo kính lỗ, có xác nhận của nhà trường về tình trang nghèo sẽ được gửi đến cửa hàng kính của TTYT để kỹ thuật viên khúc xạ (KTVKX) đo cấp đơn kính và cấp kính miễn phí. Lô HS được cấp kính: Hẹn tái khám sau 6th đo lại TL với kính cấp, đánh giá tình trạng cải thiện thị lực, mức độ hài lòng với kính.
Lô chứng: HS không được cấp kính được khám đồng thời với HS cấp kính, đánh giá TL, tình trạng đeo kính và mức độ hài lòng.
Kết quả: Theo bảng phân loại mù và TL thấp của WHO, nếu không được chỉnh quang, sẽ có ít nhất 13 (2,1%) HS bị mù và 94 (15,2%) HS có thị lực thấp độ 2 và 276 (44,66%) HS có TL thấp độ 1 do nguyên nhân khúc xạ. Sau khi được cấp kính, tình hình thị lực đã chỉnh quang cải thiện rất rõ rệt. Cụ thể, 608 HS sau chương trình cấp kính đạt TL > 6/10, hiệu quả cải thiện TL 98,38%. Không còn HS có TL < 1/10. Tỷ lệ thoát mù và TL thấp mức độ 2 là 100%; so với trước khi chỉnh quang, chỉ có 2 HS trong số 94 HS còn ở mức TL mắt tốt từ 1/10 -3/10 (0,32%). Tỷ lệ thành công thoát mù và TL thấp độ 1 là 316/318 HS (99,37%); Chỉ có 10 HS còn ở mức TL mắt tốt từ <6/10 (1,62%). Điều này cũng đồng nghĩa với có 1,62% tỷ lệ nhược thị vừa và không có trường hợp nhược thị nặng còn tồn tại sau chương trình cấp kính. Đánh giá về hiệu quả cải thiện TL sau 6 tháng, 100% HS vẫn duy trì TL > 3/10. So với thời điểm cấp kính, chỉ có 8 HS (1,29%), 6 tháng sau có 90 HS (20,36%) TL từ 3/10 - <6/10; tức 19,07% HS bị giảm TL xuống mức 3/10 - <6/10. 608 (98,38%) HS ngay thời điểm cấp kính có TL > 6/10 - 10/10 thì sau 6 tháng số HS này chỉ còn 350 HS (79,19%), 20,81% HS bị giảm TL ít nhất 2 dòng. Tuy nhiên sự thay đổi này không khác biệt giữa 2 nhóm được cấp kính (79,19%) và tự mua (79,39%). Chương trình cấp kính đáp ứng được thẩm mỹ và chất lượng cả về mặt khách quan (đánh giá TL với kính) và chủ quan (phỏng vấn).
Kết luận: Chương trình sàng lọc TKX và cấp kính miễn phí cho HS nghèo tại TP. HCM là rất hữu ích vì hiệu quả cải thiện chất lượng TL cho HS, giảm đáng kể tỷ lệ mù và TL thấp do TKX.618 HS nghèo được hưởng chương trình cấp kính miễn phí đã có 98,38% HS ngay thời điểm cấp kính có TL > 6/10 - 10/10. Chỉ có 10 HS (1,62%) còn ở mức TL mắt tốt từ <6/10 và 2 HS trong số 94 HS còn ở mức TL mắt tốt từ 1/10 -3/10 (0,32%). Tỷ lệ thành công thoát mù và TL thấp độ 1 là 316/318 HS (99,37%); không còn HS có TL < 1/10.Tỷ lệ thoát mù và TL thấp mức độ 2 là 100%. Chương trình cần có sự phối hợp hoạt động của mạng lưới CSM học đường và CSM ban đầu tại tuyến cơ sở.
Abstract
Aim: To evaluate effectiveness of the free spectacles program for the poor schoolchildren in HCMC, Vietnam.
Objectives: Estimation of number of poor school children with a VA less than 6/12. To ascertain reasons why children with R.E not having spectacles. To identify percentage of spectacles wearing among children with uncorrected refractive errors. To investigate satisfaction reported by children who are wearing spectacles with regards to appearance and quality. The Comparisions are made between children who were given free spectacles and children who had pay for their glasses. Method: Dada collection was carried out in September 2007 and 6 months later; enrolling 3364 school children from 4 districts in poorer areas in HCMC, Vietnam. District 4: 1262, Go vap: 1361, Binh chanh: 397, Thu duc: 344
Results: Of the 618 schoolchildren who were given glasses in the free spectacles program, 446 (72%) junior high school and 172 (28%) senior high school. District 4: 91 (14.72%), Go vap: 222 (35.92%), Thu duc: 87 (14.08%), Binh chanh 214 (34.63%). Among 1223 school children who are wearing glasses: 442 poor children in the free spectacles program; 781 children who had pay for their glasses. It is found that among 618 schoolchildren who were given free glasses; 383 (62%) schoolchildren with VA < 6/18 and 107 (17.3 %) schoolchildren with VA < 6/60 of the better uncorrected eye. Uncorrected R.E made 13 (2.1%) poor children were blindness; 94 (15.2%) children with low vision level 2 and 276 (44.66%) children with low vision level 1. The results of VA correction are following: 608 (98.38%) children with corrected vision > 6/12 of the better corrected eye, There is only 10 (1,62%) with BCVA < 6/18. No have VA < 6/60, A total of 1032 children were interviewed, 442 schoolchildren actually came back and got spectacles. 327 (73.98%) wore glasses on the day they were met by the survey team. 96.4% of them had visual acuity of 6/12 or better in the better corrected eye. Among these 327 children, 95 (51.9%) wore their spectacles regulary, defined as wearing glasses during all day excepting on the bed. This percentage is not statistically different from children who had pay for their glasses.
Conclusion: By correcting uncorrected R.E we can dramatically improve the quality of vision for many poor children. Available and affordable spectacles are very useful to restrict avoidable blindness and low vision. The way to eliminate uncorrected R.E is through the development of all aspects of a school eye care system, including human resources to provide eye care service; and spectacles.