Tạp chí Y học Thành phố Hồ Chí Minh, 7(4):594. DOI
Lượt xem: 133 Lượt tải PDF: 0
Huỳnh Xuân Nghiêm, Nguyễn Thị Ngọc Dung
Ngày nay với nhiều kỹ thuật chẩn đoán khác nhau trong bệnh lý tuyến vú như : siêu âm, nhũ ảnh, MRI, chọc hút tế bào vú bằng kim nhỏ, kỹ thuật sinh thiết vú qua siêu âm, ABBI đã giúp cho các lâm sàng càng có khả năng nhận định, đánh giá các tổn thương chính xác hơn. Điều này có ý nghĩa to lớn trong việc tầm soát ung thư vú mà đây là loại ung thư đứng hàng thứ hai tại Việt Nam. Tại bệnh viện Hùng Vương đã tiếp nhận hơn 12.000 bệnh nhân đến khám và điếu trị bệnh lý tuyến vú từ năm 2000 - 2003, việc chẩn đoán vôi hóa vi thể trên hình ảnh xquang nhũ là một điều vô cùng lý thú, sự kết hợp nhũ ảnh + mổ sinh thiết định vị bằng kim trong 21 trường hợp bước đầu đánh giá về mối liên quan giữa các yế tố nguy cơ, tổ thương vôi hóa vi thể, các dạng khác nhau của vôi hóa vi thể trong việc tầm soát ung thư vú không có tổ thương ở lứa tuổi trung bình là 46,4 + 5,4 tuổi. Tỷ lệ vôi hóa vi thể trên xquang nhũ là 0,2%. Đây là nghiên cứu hồi cứu, qua khảo sát chúng tôi nhận thấy rằng việc đi khám định kỳ ở những bệnh nhân trên 40 tuổi rất cần thiết bởi vì ở lứa tuổi này chụp nhũ ảnh được chỉ định một cách rộng rãi mà qua đó độ nhạy cảm của kỹ thuật này đã mang lại những kết quả khả quan (nếu có hình ảnh vôi hóa vi thể trên nhũ ảnh). Độ nhạy cảm có tổ thương vôi hóa vi thể nghi ngờ ác tính là 100% (39,8% - 100%), độ đặc hiệu 94,1% (71,3% - 100%), điều này có ý nghĩa rất quan trọng tong chẩn đoán và tiên lượng những trường hợp vôi hóa vi thể trên nhũ ảnh. Trong phần bàn luận chúng tôi thảo luận thêm sự kết hợp nhũ ảnh với các phương tiện chẩn đoán hình ảnh khác trong bệnh lý này.