HO CHI MINH CITY JOURNAL OF MEDICINE
banner

THEO DÕI NỒNG ĐỘ AMIKACIN TRONG TRỊ LIỆU TẠI BỆNH VIỆN NHÂN DÂN GIA ĐỊNH

MONITORING THE CONCENTRATION OF AMIKACINE ON PATIENTS AT NHAN DAN GIA DINH HOSPITAL

Bấm tải bài viết

Tạp chí Y học Thành phố Hồ Chí Minh, 23(6):334. DOI

Lượt xem: 171 Lượt tải PDF: 0

Tác giả

Nguyễn Thị Chi*, Phạm Hồng Thắm**, Lê Việt Hùng**, Phan Đỗ Thanh Trúc**, Nguyễn Hồng Hiền Trang*, Nguyễn Thị Như Thùy*, Nguyễn Tuấn Dũng***

Tóm tắt

Mục tiêu: Đánh giá hiệu quả và an toàn của amikacin trên cơ sở phân tích các chỉ số dược động hoc/dược lực học (Cpeak, Ctrough và Cmid-level)

Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả tiến cứu, có can thiệp được thực hiện từ 02/2019 đến 07/2019. Áp dụng quy trình theo dõi nồng độ amikacin trên 40 bệnh nhân tại một khoa ngoại Bệnh viện Nhân Dân Gia Định. Nồng độ thuốc trong huyết thanh được đo bằng phương pháp FPIA. Liều điều trị được tăng hoặc giảm dựa chủ yếu theo kết quả nồng độ đo được. Bệnh nhân được hiệu chỉnh liều sẽ được đo lại nồng độ phù hợp với chế độ liều.

Kết quả: Kết quả cho thấy có 40 bệnh nhân đủ điều kiện tham gia nghiên cứu, độ tuổi trung bình 57,0±15,3 tuổi, giới tính nữ chiếm tỉ lệ cao (57,5%), thời gian nằm viện 6,8±2,4 ngày. Liều trung bình 13,6±2,3 mg/kg/ngày. Nồng độ khoảng giữa ở thời điểm 9-12 giờ có 36,4% bệnh nhân nằm trong khu vực 24 giờ, 59,1% dưới ngưỡng phát hiện và 4,5% nằm trên khu vực 24 giờ. Nồng độ đỉnh chế độ liều nhiều lần trên ngày (MDD) trên 8 bệnh nhân có 87,5% bệnh nhân trong khoảng trị liệu, 12,5% trên khoảng trị liệu và không có bệnh nhân nào nằm dưới khoảng trị liệu. Nồng độ đỉnh chế độ liều một lần trên ngày (ODD trên 11 bệnh nhân có 90,9% bệnh nhân dưới khoảng trị liệu và chỉ 9,1% đạt khoảng trị liệu. Với nồng đáy chế độ liều MDD có 71,4% bệnh nhân đạt nồng độ tối ưu, 28,6% đạt gần tối ưu và không có bệnh nhân nào có nồng độ vượt mục tiêu; nồng độ đáy chế độ liều ODD, bệnh nhân đạt nồng độ đáy mục tiêu là 76,9% và trên ngưỡng trị liệu là 23,1%. Theo dõi độc tính trên thận thông qua creatinin huyết thanh có 1 bệnh nhân có dấu hiệu độc thận (nồng độ creatinin sau khi dùng amikacin tăng thêm 68,3% so với ban đầu) và 1 bệnh nhân suy thận cấp sau khi dùng amikacin 3 ngày và không có bệnh nhân nào ghi nhận độc tính trên thính giác và tiền đình.

Kết luận: Theo dõi nồng độ amikacin trong trị liệu hữu ích trong việc phát hiện sớm độc tính và hiệu chỉnh liều kịp thời kịp thời cho bệnh nhân.

Từ khóa: amikacin, khoảng trị liệu, hiệu quả điều trị, độc tính

Abstract

Nguyen Thi Chi, Pham Hong Tham, Le Viet Hung, Phan Do Thanh Truc, Nguyen Hong Hien Trang, Nguyen Thi Nhu Thuy, Nguyen Tuan Dung
* Ho Chi Minh City Journal of Medicine * Supplement of Vol. 23 - No. 6 - 2019: 335 - 242

Objective: Evaluate the effectiveness and safety of amikacin based on analysis of pharmacokinetic / pharmacodynamic indicators (Cpeak, Ctrough and Cmid levels).

*Khoa Dược – Đại hc Nguyn Tt Thành       **Khoa Dược, khoa Ngoi tiết niu – BV. Nhân dân Gia Định

***Khoa Dược – Đại hc Y Dược TP. H Chí Minh

Tác giả liên lạc: DS. Nguyễn Thị Chi         ĐT: 0909448698               Email: chinguyen551988@gmail.com


Methods:  An observational, descriptive study was conducted from February 2019 to July 201. Apply amikacin concentration monitoring procedure on 40 patients in a Surgery department at Nhan dan Gia Dinh Hospital. The amikacine concentration was measured by Fluorescence Polarization Immunoassay method (FPIA). The dose is increased or decreased based primarily on the result of concentration. The dose-adjusted patients will be re-measured concentration in accordance with the dose regime.

Results: The study included a total of 40 patients with a mean age of 57.0 ± 15.3 years, female sex accounted for a high proportion (57.5%), hospitalization time was 6.8 ± 2.4 days. There were 36.4% interval concentration at 9-12 h after start of the infusion in AUC0 – 24 of the patients, 59.1% of the patients were below detection level and 4.5% of the patients were above AUC0-24. Peak concentration of Multiple daily dosing (MDD) had 87.5% of patients in the therapeutic window, 12.5% of the patients above the therapeutic window and no patients were below the therapeutic window. Peak concentration of Once daily dose (ODD) had 90.9% of patients below the therapeutic window, 9.1% of the patients in the therapeutic window. With the trough concentration of MDD, 71.4% of the patients reached the optimal concentration, 28.6% of the patients reached near the optimal concentration, and no patients had above optimal concentration. With the trough concentration of ODD, 76.9% of the patients reached the optimal concentration and 23.1% of the patients above the optimal concentration. Monitoring renal toxicity through serum creatinine showed that 1 patient with signs of nephrotoxicity and 1 patient with acute renal failure after taking amikacin 3 days and no patients reported about hearing or vestibular toxicity.

Conclusion: It was documented shows that therapeutic drug monitoring of amikacin is useful in early detection of toxicity and timely adjustment of dose for patients.

Keys words: amikacine, therapeutic range, drug effectively, toxicity