HO CHI MINH CITY JOURNAL OF MEDICINE
banner

THUYÊN TẮC ĐỘNG MẠCH TỬ CUNG TRONG ĐIỀU TRỊ BĂNG HUYẾT SAU SANH

UTERINE ARTERIES EMBOLISM IN TREATMENT POSTPARTUM HEMORRAGE

Bấm tải bài viết

Tạp chí Y học Thành phố Hồ Chí Minh, 23(6):285. DOI

Lượt xem: 188 Lượt tải PDF: 0

Tác giả

Nguyễn Thanh Tuyền*, Nguyễn Đình Luân**, Nguyễn Thị Mai Lộc*, Hứa Thị Chi*, Huỳnh Ngọc Phước*, Nguyễn Anh Dũng*

Tóm tắt

Đặt vấn đề: Băng huyết sau sanh (BHSS) hiện nay vẫn còn là một trong những nguyên nhân hàng đầu gây tử vong mẹ. BHSS nặng chiếm 25% tử vong mẹ trên thế giới. Các phương pháp điều trị nội khoa cho BHSS như: thuốc gò tử cung, massage tử cung, bóng chèn lòng tử cung… Can thiệp ngoại khoa khi điều trị nội khoa thất bại: cột động mạch tử cung, cột động mạch chậu trong, khâu mũi B- Lynch, nặng nề hơn là cắt tử cung. Những can thiệp này đi kèm sau đó là mất khả năng sinh sản và nguy cơ vô cảm toàn thân. 1979, thuyên tắc động mạch tử cung trong điều trị BHSS, được mô tả đầu tiên bởi Brown và cộng sự, với kết cục lâm sàng tốt. Đây là một thủ thuật có thể lặp lại nhanh, thực hiện không cần vô cảm toàn thân, bảo tồn tử cung. Mặc dù, hiệu quả kinh nguyệt và khả năng thụ thai vẫn còn chưa rõ.

Mục tiêu: Hiệu quả của thuyên tắc động mạch tử cung trong điều trị BHSS nguyên phát hoặc thứ phát.

Đối tượng – Phương pháp nghiên cứu: Báo cáo hàng loạt ca. Sản phụ bị BHSS nặng, sinh tại bệnh viện Nhân dân Gia định hoặc sinh từ nơi khác chuyn đến, thoả tiêu chí chọn mẫu.

Kết quả: Trong 7 trường hợp thực hiện, tỉ lệ thành công của thuyên tắc động mạch tử cung tại bệnh viện là 100%. Tất cả các ca nghiên cứu đều không có tiền căn BHSS hay có yếu tố nguy cơ của BHSS trước lúc sanh. Có 4 trường hợp được thực hiện thuyên tắc mạch trên bệnh nhân bị BHSS do đờ tử cung tại hồi sức sau phẫu thuật lấy thai, 1 trường hợp thực hiện thuyên tắc mạch trên bệnh nhân bị BHSS do đờ tử cung thứ phát sau sanh ngã âm đạo, có bệnh lý nội khoa trước sanh là suy thận mãn. Có 2 trường hợp thực hiện thuyên tắc mạch trên bệnh nhân có tình trạng chảy máu và tụ máu chỗ mổ do BHSS có choáng mất máu (thực hiện sau khi đã ổn định nội khoa). Không có trường hợp nào có biến chứng trong lúc thực hiện thuyên tắc mạch. 4 trường hợp nêu đầu tiên đều có kinh sau 4 đến 6 tháng sau thực hiện thủ thuật. 1 trường hợp có bệnh lý suy thận mãn có kinh thưa chu kỳ tầm 6 tháng ( không loại được do bệnh nền nội khoa có sẵn).

Kết luận: Thuyên tắc động mạch tử cung trong điều trị BHSS là phương pháp mới được tiến hành tại bệnh viện Nhân dân Gia định. Bước khởi đầu áp dụng cho thấy hiệu quả và an toàn trên các ca được thực hiện

Từ khóa: thuyên tắc động mạch tử cung, băng huyết sau sanh

Abstract

Nguyen Thanh Tuyen, Nguyen Dinh Luan, Nguyen Thi Mai Loc, Hua Thi Chi, Huynh Ngoc Phuoc,
Nguyen Anh Dung
* Ho Chi Minh City Journal of Medicine * Supplement of Vol. 23 - No. 6 - 2019: 285 - 289

*Khoa Sanh - Bệnh viện Nhân Dân Gia Định

**Khoa Chẩn đoán hình ảnh - Bệnh viện Nhân Dân Gia Định

Tác giả liên lạc: ThS.BS. Nguyễn Thanh Tuyền      ĐT: 0903963565               Email: thanhtuyen8118@yahoo.com

Background: Postpartum hemorrhage (PPH) is still one of the leading causes of maternal death. Severe PPH accounts for 25% of maternal deaths in the world. The medical treatment methods for PPH such as uterotonic drug, uterine massage, balloon tamponade, Surgical interventions when medical treatment failed: tie the uterine arteries or the internal iliac arteries, B- Lynch suture and if fail, hysterectomy may happen. These interventions are followed by infertility and the risk of general anesthesia. In 1979, uterine artery embolization in the treatment of PPH was described by Bown et al, with good clinical outcmes. This is a procedure that can be quickly repeated, performed without general anesthesia, conserving the uterus. Although, menstrual efficiency and ability to conceive are still unknown.

Objective: Uterine arterial embolism in the treatment of primary or secondary PPH.

Methods: Case series. Women with severe PPH, delivery in Nhan dan Gia Đinh Hospital or hospital-to- hospital transfer, haved the criteria for sample selection.

Results: In 7 cases, the success rate of uterine arterial embolism is 100%. All studies did not have a prior history of PPH or risk factors for PPH. There are 4 cases where embolism was performed on PPH due to uterine atony resuscitation after cesarean surgery, 1 case of embolism was performed on PPH due to uterine atony after vaginal bleeding with history medical is chronic renal failure. There are 2 cases of embolization of bleeding and hematoma after hysterectomy due to PPH (performed after treatment such as shock due to hypovolemie, disseminate intravascular coagulation DIC). There were no cases of complications during embolization. The first 4 cases were reported to have menstruation after 4 to 6 months after the procedure. 1 case of chronic renal failure with menstrual period 6 months (not excluded due to available medical disease).

Conclusion: Uterine artery embolism in the treatment of PPH is a new approach at Nhan dan Gia Dinh Hospital. The initial step of the application shows that efficacy and safety on cases are performed.

Keywords: uterine arteries embolism, postpartum hemorrage