Tạp chí Y học Thành phố Hồ Chí Minh, 21(6):218. DOI
Lượt xem: 157 Lượt tải PDF: 0
Nguyễn Thị Ly Ly*
Mục tiêu: Xác định tỉ lệ bệnh nhân thông liên thất (TLT) theo dõi
ngoại trú tại Bệnh viện Nhi Đồng Đồng Nai, tỉ lệ các đặc điểm của hai nhóm bệnh
nhân: TLT có can thiệp và TLT tự đóng và các kết quả sau can thiệp.
Kết quả: Có 338 bệnh nhân tham gia tái khám, chiếm 68%. Đặc điểm
của lô nghiên cứu có 36,7% bệnh nhân suy dinh dưỡng, 9,8% bệnh nhân có dị tật
ngoài tim đi kèm, TLT phần quanh màng chiếm đa số, kế đến là phần thoát, 43,4%
TLT nhỏ, 36,2% TLT trung bình và 20% TLT lớn. 14 bệnh nhân (4,1%) tử vong trong
quá trình theo dõi, trong đó có 10 trường hợp tử vong trước can thiệp. Tỉ lệ
TLT tự đóng là 19,2%, đa số là TLT cơ bè và TLT phần màng. TLT phần thoát nhỏ vẫn
có cơ hội tự đóng. 38,7% bệnh nhân có TLT đóng trước 12 tháng, 64,5% đóng trước
24 tháng, 93,6% đóng trước 60 tháng. Tỉ lệ can thiệp khá cao 45,3%. Hơn 50% bệnh
nhân được phẫu thuật trước 14 tháng. Thời gian theo dõi sau phẫu thuật trung
bình là 18,6 tháng (1-73 tháng) ở 103 bệnh nhân cho thấy cải thiện về mặt dinh
dưỡng, kết quả siêu âm tim bình thường sau phẫu thuật là 70,9%, các bất thường
tồn lưu cần quan tâm là hở van hai lá trung bình nặng (8,7%) và hở van động mạch
chủ nhẹ (9,7%), kết quả điện tâm đồ có 32,3% block nhánh phải hoàn toàn. Đóng
TLT bằng dụng cụ được thực hiện ở 22 bệnh nhân với tuổi trung bình là 62,7
tháng và 16 bệnh nhân được theo dõi trong 18,9 ± 13,4 tháng cho thấy kết quả
khá tốt.
Kết luận: Bệnh thông liên thất hoàn toàn có
thể được theo dõi tốt tại bệnh viện tuyến tỉnh có bác sĩ tim mạch nhi và các kết
quả sau can thiệp khá tốt.
Objective: To determine the prevalence of VSD patients followed up
in Dong Nai Children’s Hospital and describe their characteristics according to
two groups: intervention (surgical and transcatheter closure) and spontaneous
closure.
Results: Follow-up was performed on 338 patients (68%). There
were 36.7% of patients underweight, 9.8% extra cardiac abnormalities. The
majority of patients were perimembraneous VSD, then outlet VSD, with 43.4%
small, 36.2% moderate and 20% large VSD.14 patients (4.1%) died during follow
up, among them, 10 patients died before intervention. Spontaneous closure
occurred only in 19.2%, mostly in the muscular and perimembraneous group, but
small outlet VSDs could also closed spontaneously.38.7% VSD closed within the
first 12 months, 64.5% closed before 24 months and 93.6% closed before 60
months. The prevalence of intervention was rather high, 45.3%. Above 50% of
cases was operated before 14 months. During the mean follow up period of 18.6
months (1-73 months) with 103 patients after surgery,
there was improvement on nutritional status; the results of echocardiography
became almost normal in 70.9% cases. The residual abnormalities included
moderate-severe mitral regurgitation (8.7%), mild aortic regurgitation (9.7%), and
complete right bundle branch block (32.3%). Percutaneous transcatheter closure
was performed on 22 patients with the mean age of 62.7 months. The results
showed rather good after follow up for the mean period of 18.9 ± 13.4 months
with 16 patients.
Conclusion: Patients with VSD may be well followed up at the local hospital that has
pediatric cardiologists and we have had good outcome of interventions.
Keywords: Ventricular septal defect (VSD)-spontaneous closure-surgery- pericutaneous transcatheter closure.