Tạp chí Y học Thành phố Hồ Chí Minh, 21(6):119. DOI
Lượt xem: 224 Lượt tải PDF: 2
Nguyễn Vạn Thông**, Võ Thanh Bình*,, Trịnh Nhật Thư Hương***, Nguyễn Minh Trúc*, Nguyễn Hữu Nguyên****, Nguyễn Thị Quỳnh Thơ****, Hoàng Thị Diễm Tuyết**, Trương Đình Kiệt****, Phan Minh Duy*****, Giang Hoa****, Đỗ Thị Thanh Thủy*,
Mở đầu: Hiện nay, phương pháp sàng lọc trước sinh không xâm lấn bằng kỹ thuật giải
trình tự thế hệ mới (Next generation
sequencing – NGS) đã được áp dụng phổ biến trên thế giới để phát hiện thai nhi bị tam bội nhiễm
sắc thể. Phương pháp này có độ nhạy và độ đặc hiệu cao, giúp giảm số lượng chỉ
định thủ thuật xâm lấn, đảm bảo an toàn sức khoẻ thai phụ và thai nhi. Ở Việt
Nam, mẫu máu của thai phụ sẽ
được gởi sang nước ngoài để thực hiện sàng lọc này với chi phí cao
và thời gian trả kết quả dài.
Mục tiêu: Thiết lập qui trình và ứng dụng sàng lọc trước sinh không
xâm lấn phát hiện lệch bội nhiễm sắc thể
(NST) ở thai nhi qua máu mẹ.
Phương pháp Thiết lập qui
trình và nghiên cứu ứng dụng. 68 thai phụ có tuần tuổi thai từ 14 tuần đến 22
tuần có nguy cơ cao mang thai bất thường số lượng nhiễm sắc thể qua các xét
nghiệm tầm soát ba tháng đầu thai kỳ (siêu âm độ mờ da gáy –NT và xét nghiệm
double test). Các thai phụ này được tư vấn thực hiện xét nghiệm chẩn đoán chọc
hút dịch ối để phân tích nhiễm sắc thể đồ của thai nhi tại bệnh viện Hùng
Vương. Trước khi thực hiện thủ thuật xâm lấn, 10ml mẫu máu của 68 thai phụ này
được lấy trong ống K2EDTA và gửi tới trung tâm Y Sinh học Phân tử đại học Y Dược
TPHCM. Kỹ thuật giải trình tự gen thế hệ mới được chúng tôi thiết lập qui trình hoàn chỉnh, bao gồm tách chiết DNA tự
do trong mẫu máu sử dụng bộ kit của Thermo Fisher Scinetific (Hoa Kỳ), xây dựng
thư viện trình tự sử dụng bộ kit của New England Biolabs (Hoa Kỳ), giải trình tự
bằng hệ thống giải trình tự thế hệ mới Illumina (Hoa Kỳ) và phân tích kết quả bằng
hai phương pháp được sử dụng phổ biến: đếm cơ bản (CB: count-based) và đếm dựa
trên kích thước phân mảnh ADN (SB: size-based). So sánh kết quả của qui trình
được thiếp lập trong nghiên cứu với chuẩn vàng là phân tích nhiễm sắc thể đồ của
thai nhi qua tế bào ối.
Kết quả: Qui trình kỹ thuật
giải trình tự thế hệ mới trong sàng lọc trước sinh không xâm lấn đối với bất
thường đa bội nhiễm sắc thể (NST) qua máu mẹ đã được thiết lập. Ứng dụng kỹ thuật
này với 68 mẫu máu của các thai phụ có tuần tuổi thai từ 14 tuần đến 16 tuần. Kết
quả phát hiện 34 trường hợp có bất thường NST bao gồm 26 Trisomy 21, 6 Trisomy
18 và 2 Trisomy 13 và 34 mẫu bình thường. So sánh kết quả của phương pháp giải
trình tự gen thế hệ mới với kết quả nhiễm sắc thể đồ tại Bệnh viện Hùng Vương
cho thấy sự tương đồng giữa các phương pháp là 100%.
Kết luận: Nghiên cứu đã
thiết lập được qui trình sàng lọc trước sinh bất thường NST bằng kỹ thuật giải
trình tự thế hệ mới từ máu mẹ với độ tương đồng với kết quả phân tích NST đồ là
100%. Quy trình này có thể giúp làm giảm tỉ lệ thai phụ được chỉ định chọc ối,
góp phần giảm nguy cơ từ phương pháp chẩn đoán xâm lấn.
Từ khoá: Sàng lọc trước
sinh không xâm lấn (NIPT), tam bội NST, NT, kỹ thuật giải trình tự gen thế hệ mới
(NGS).
Background: Non-invasive
prenatal testing (NIPT) for fetal aneuploidies has been widely adopted in
developed countries. This method has shown high sensitivity and specificity,
helping to reduce the number of invasive operations and increase health care
quality of pregnant women. In Viet Nam, collected blood samples have been sent
oversea to perform this prenatal testing with high cost and longer report time.
Objective: This study aims
to develop a complete non-invasive prenatal testing protocol in Viet Nam for
fetal aneuploidies using maternal blood.
Method: An application
study. Blood from high-risk pregnant females with singleton pregnancies in
second trimester was collected for this prenatal test before proceeding to
amniocentesis at Hung Vuong hospital. Complete protocol was performed:
cell-free DNA extraction from blood, preparation of sequencing libraries, and
loading for sequencing using Illumina next-generation sequencing system.
Results: Our protocol was
successfully established and applied to 68 samples from high-risk pregnant women. The results of our protocol
were compared with gold-standard diagnosis by karyotype at Hung Vuong hospital.
Among 34 samples confirmed to be aneuploidy by karyotype of which 26 are
trisomy 21, 6 are trisomy 18, 2 are trisomy 13, our protocol could identify all
of them, showing a concordance of 100 % in result between our NIPT protocol and
karyotyping.
Conclusion: This study has
successfully developed a complete protocol for non-invasive prenatal screening
for fetal aneuploidies. The application of this method in Viet Nam
could reduce the cost and time due to sample transportation processes as well
as reduce the number of pregnant
females with amniocentesis prescription and therefore reduce risk from invasive
procedures.
Key words: Non-invasive
prenatal testing (NIPT), aneuploidy, NT, Next-generation sequencing (NGS)