Tạp chí Y học Thành phố Hồ Chí Minh, 21(6):107. DOI
Lượt xem: 169 Lượt tải PDF: 2
Tôn Thị Thanh Thảo*, Bùi Tùng Hiệp*, Nguyễn Ngọc Khôi**
Cơ sở: Việt Nam được phân loại vào vùng dịch lưu hành cao
với tỉ lệ nhiễm khoảng 10% dân số. Đường lây truyền phổ biến ở nước ta là từ mẹ
sang con. Tuy nhiên, thai phụ nhiễm virus viêm gan B chưa được nghiên cứu đầy đủ
để ngăn ngừa lây truyền bệnh cho thai nhi.
Mục tiêu: Khảo
sát kiến thức về bệnh VGSVB của thai phụ nhiễm HBV và tỉ lệ sử dụng thuốc điều
trị trên thai phụ.
Phương pháp: Cắt ngang mô
tả. Mẫu được lấy thuận tiện tiếp theo tại phòng khám thai khu A Bệnh viện Hùng
Vương. Số liệu thu thập từ các bảng câu hỏi từ tháng 1 đến tháng 5 năm 2016.
Kết quả: Tỉ lệ thai phụ
nhiễm HBV là 8,8%. Tỉ lệ thai phụ biết ít nhất 1 cách lây truyền, 1 cách phòng
ngừa và 1 biến chứng lần lượt là 89,1%, 90,1%, 84,3%. 61,2% thai phụ có kiến thức
tốt về bệnh. Có mối liên quan giữa kiến thức về bệnh và trình độ học vấn, việc
sống chung nhà với người bệnh. Có 69,5% thai phụ phải dùng thuốc, 85,4% bắt đầu
dùng thuốc từ tuần 28 thai kỳ và 100% dùng tenofovir.
Kết luận: Tỉ lệ thai phụ
nhiễm HBV khá cao. Kiến thức về bệnh liên quan đến trình độ học vấn và việc sống
chung nhà với người bệnh. Khi cần dùng thuốc, tất cả thai phụ đều dùng
tenofovir.
Từ khóa: virus viêm gan B,
thuốc kháng virus, bệnh viêm gan siêu vi B.
Background: Vietnam is being classified
as a hyper endemic area for HBV infection, with an estimated 10% of the total
population. Vertical transmission is the commonest route of spreading hepatitis
B virus in Vietnam. However, pregnant women with HBV infection hasnot been
studied completely to prevent the children transmission.
Objective: To assess the knowledge on
hepatitis B and treatment rate of HBV pregnant carriers.
Method: In this cross sectional descriptive study,
pregnant women from obstetric clinic in Hung Vuong hospital were enrolled using
convenience sampling. Data was collected using a self-administered structured
questionnaire which was pretested from Jan to May 2016.
Results: HBV carrier rate in pregnant women is 8.8%. The
proportions of pregnant women were aware at least 1 mode of transmission,
prevention and complication were 89.1%, 90.1% and 84.3% respectively. 61.2% of
pregnant women had good knowledge score. This score was
significantly associated with acedemic level (p < 0.01) and living with HBV
carrier (p < 0.01). 69.5% of pregnant women received antiviral
treatment, 85.4% of them started treatment during the third trimester and all
of them were prescribed tenofovir.
Conclusion: The prevalence of HBV
pregnant carriers is high. Knowledge was associated with acedemic level and
living with HBV carrier. Only tenofovir was prescribed for all pregnant women.