Tạp chí Y học Thành phố Hồ Chí Minh, 21(6):100. DOI
Lượt xem: 217 Lượt tải PDF: 3
Trần Minh Bảo Luân1, Nguyễn Hoài Nam1, Nguyễn Trung Tín2, Trần Quyết Tiến1
Đặt vấn đề: Việc phát hiện
sớm và xác định chính xác giai đoạn ung thư phổi, giúp chọn lựa phương pháp điều
trị thích hợp sẽ góp phần cải thiện tiên lượng của bệnh. Tuy nhiên, để định
giai đoạn ung thư phổi chính xác trước mổ thì vai trò của CT scan ngực trong
xác định tính chất khối u phổi và khả năng di căn các nhóm hạch rốn phổi, hạch
trung thất đóng vai trò chủ yếu.
Phương pháp nghiên cứu: tiền
cứu mô tả.
Kết quả: từ 01/01/2012 đến
31/12/2016 có 109 trường hợp ung thư phổi nguyên phát không tế bào nhỏ được điều
trị bằng phẫu thuật nội soi lồng ngực cắt thùy phổi kèm nạo hạch, tuổi trung
bình 59,18 ± 10,08 (31 – 80), trong đó 59 nam (54,1%), 50 nữ (45,9%). Kích thước
khối u phổi trung bình 3,23 ± 0,91 (1,2 – 5cm); Tổng cộng có 419 vị trí hạch được
khảo sát, CTscan cho thấy 225 (53,7%) vị trí phát hiện có hạch và 194 vị trí
không phát hiện hạch. Phẫu thuật cho thấy 309 vị trí có hạch, 110 vị trí không
có hạch. Khả năng của CT scan phát hiện các nhóm hạch: độ nhạy 72,8%, giá trị
tiên đoán âm 56,7%, độ chính xác 79,9%. CT scan trong đánh giá kích thước hạch
và xác định di căn hạch với độ chính xác 88% và 84%. Định giai đoạn trên CT
scan: 24 trường hợp (22%) IA (T1a,N0;
T1b,N0), 42 trường hợp (38,5%) IB (T2a,N0); 24 trường hợp (22%) IIA (T1a,N1;
T1b,N1; T2a,N1); 19 trường hợp (17,5%) IIIA (T1a,N2; T1b,N2; T2a,N2). Độ chính
xác của CT scan trong định giai đoạn ung thư phổi: 71,6%.
Kết luận: CT scan ngực cho
thấy độ nhạy, độ chuyên và độ chính xác trong phát hiện và xác định tính chất hạch,
cũng như giai đoạn ung thư phổi nguyên phát không tế bào nhỏ chưa thật sự cao.
Tuy nhiên, CT scan ngực vẫn được xem là phương tiện chẩn đoán đầu tay và quan
trọng, trong xác định di căn hạch và giai đoạn ung thư phổi trước phẫu thuật.
Từ khóa: CT scan ngực, di căn hạch, giai đoạn ung thư phổi.
Introduction: Early
detection and accuracy of staging lung cancer, will help to select the
appropriate treatments and contribute improvement of disease prognosis. However,
to have exactly the stage of lung cancer before surgery, the role of CT scan in
determinedness of the tumor characteristics and the ability of metastatic lymph
node stations is very important.
Method: prospective
description.
Results: From 01/01/2012 to 31/12/2016 there were 109 cases of
primary non-small cell lung cancer treated by VATS lobectomy and
lymphadenectomy, the mean age 59,18 ± 10,08 (31 –
80), of which 59 males (54.1%), 50 females (45.9%) and the mean size of tumor was 3.23 ±
0.91 (1.2 – 5cm). A total of 419 lympho node stations were investigated, CT scan showed 225 positive lymph node stations (53.7%) and 194
negative lympho node stations (46,3%). Surgery showed that 309
positive lympho node stations (73,7%) and 110 negative lymph node
stations (26,3%). The ability of CT scan in detection of all lympho node
stations with sensitivity 72.8%, negative predictive
value 56.7% and accuracy 79.9%. CT scan in
assessment of lymph node size and lymph node metastasis with 88% and 84%
accuracy. Staging lung cancer based on CT scan: 24 cases (22%) IA
(T1a,N0;T1b,N0), 42 cases (38.5%) IB (T2a,N0); 24 cases (22%) IIA (T1a,N1;
T1b,N1; T2a,N1); 19 cases (17.5%) IIIA (T1a,N2; T1b,N2; T2a,N2). The accuracy
of CT scan in staging for lung cancer is 71.6%.
Conclusion: CT scan showed
sensitivity, specificity and accuracy in detecting and determining lymph node
status, as well as stage of primary non-small cell lung cancer is not really
high. However, CT scan is still considered as the first and most important diagnostic
tool in determining lymph node metastases and preoperative stage of lung
cancer.
Keywords: chest CT scan, lympho nodal metastasis, staging
lung cancer.