Tạp chí Y học Thành phố Hồ Chí Minh, 23(1):70. DOI
Lượt xem: 333 Lượt tải PDF: 10
Hoàng Long*, Trần Minh Trường**
Mục tiêu: Nội soi hoạt nghiệm thanh quản được sử dụng tại
bệnh viện Tai Mũi Họng Sài Gòn (BVTMHSG) để xác định rõ tổn thương và đánh giá
kết quả điều trị của những bệnh lý lành tính dây thanh sau điều trị nội khoa và
phẫu thuật.
Phương pháp: Nghiên cứu mô tả cắt ngang, được thực hiện từ
tháng 12/2016 đến tháng 4/2018. 52 bệnh nhân có rối loạn giọng được nội soi hoạt
nghiệm thanh quản trước và sau điều trị 1 tháng và 3 tháng. Đánh giá sự hồi phục
bằng cách phân tích RLG (rối loạn giọng) dựa
trên các chỉ số rối loạn giọng nói (DSI), chỉ số khuyết tật giọng nói (VHI) và
hình thể dây thanh.
Kết quả: có 7/52 ca (13,5%) có thay đổi chẩn đoán so với kết
quả soi thanh quản bằng nội soi thường quy. Trước điều trị có chỉ số DSI trung
bình ở mức độ rất nặng (-6,51), sau điều trị chỉ số này ở mức độ trung bình
(-1,22). VHI trước điều chỉ có 2/52 (3,9%) ở mức độ nhẹ, sau điều trị đã tăng
lên 36/52 (69,2%). Hình thể dây thanh trước điều trị có 46/52 (88,5%) ở mức độ
chưa tốt, sau điều trị tỉ lệ này giảm xuống còn 16/52 (30,8%).
Kết luận: NSHNTQ góp phần phân tích sự rối loạn giọng
chính xác giúp cho việc chẩn đoán bệnh lý lành tính thanh quản chính xác hơn từ
đó giúp phẫu thuật viên can thiệp đúng mức, hạn chế làm tổn thương dây thanh.
Từ khóa: nội soi hoạt nghiệm thanh quản, DSI, VHI, bệnh lý
lành tính dây thanh
Objective: Videostroboscopy were used in Saigon ENT
hospital to identify the lesion and to evaluate the operative outcomes of 52
patiens with benign laryngeal lesions from December 2016 to April 2018.
Method: Cross sectional descriptive study. Each patient
was examined with videostrobscope: the first time before the operation, the
second time 1 month after the operation and the last after 3 months. The
outcome results were evaluated base on dysphonia severity index (DSI), voice
handicap index (VHI) and appearance of the vocal cords.
Results: Videostroboscopy changed the diagnosis in 7/52
cases (13.5%). The mean DSI score preoperative was in severe category (-6.51),
but it has improved to moderate category (-1.22) postoperative. In the beginning,
2/52 cases (3.9%) of patient with a mild VHI score, after 3 months there was
36/52 cases (69.2%). For the vocal cord’s appearance, there was a decline in
category III (not good) from 46/52 cases (88.5%) to 16/52 cases (30.8%).
Conclusion: Videostroboscopy helps the physicians to identify
the exact lesion, so the lesion can be removed precisely to preserve the vocal
cord’s normal mucosal membrane.
Keywords: videostroboscopy, DSI, VHI, benign laryngeal
lesions