Tạp chí Y học Thành phố Hồ Chí Minh, 23(1):62. DOI
Lượt xem: 272 Lượt tải PDF: 0
Phạm Quốc Thảo Trang*, Lê Thái Vân Thanh*
Đặt vấn đề: Đỏ da toàn thân (ĐDTT) có thể gây đe dọa tính mạng
và ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống của bệnh nhân. Triệu chứng lâm sàng trong
ĐDTT thường chồng lấp gây khó khăn cho chẩn đoán bệnh căn.
Mục tiêu: Khảo sát đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng của bệnh
nhân ĐDTT nhập viện Bệnh viện Da liễu Tp. Hồ Chí Minh.
Đối tượng và phương pháp
nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả hàng
loạt ca. Bệnh nhân ĐDTT được khám lâm sàng, thực hiện cận lâm sàng và được theo
dõi diễn tiến bệnh đến khi xuất viện.
Kết quả: 64 bệnh nhân trong mẫu nghiên cứu có tuổi trung
bình là 53,33 ± 14,13. Triệu chứng ngứathường
gặp nhất (70,31%). Bất thường cận lâm sàng như tăng IgE huyết thanh (57,81%), tốc độ lắng máu tăng (56,25%), giảm albumin huyết thanh (51,57%),tăng bạch cầu
(40,63%). IgE huyết thanh tăng có sự khác
biệt giữa ĐDTT do chàm so với vảy nến (p
= 0,014). Mô học phù hợp chẩn đoán bệnh căn trong 76,56% trường hợp. Vảy nến
chiếm tỉ lệ cao nhất trong các bệnh căn ĐDTT (60,94%), kế tiếp là chàm
(20,31%).
Kết luận: Mô
học giúp chẩn đoán bệnh căn ĐDTT trong phần lớn trường hợp. Ngoài ra, nồng độ IgE huyết thanh có thể là
công cụ hỗ trợ giúp chẩn đoán phân biệt ĐDTT do vảy nến với chàm khi lâm sàng
không điển hình.
Từ khóa: đỏ da toàn thân, IgE huyết thanh, mô học
Background: Erythroderma is a potentially
life-threatening condition and has a negative impact on quality of life.
Erythroderma has many overlapping features which made the identification of
underlying cause quiet challenging.
Objective: To survey the clinical features and laboratory
findings in erythroderma admitted to Ho Chi Minh City Hospital of
Dermato-Venereology.
Subjects and Methods: A case series study was conducted. Erythrodermic
patients were physical examined, performed laboratory examinations including
skin biopsy and were followed up until discharge to know the evolution of the
erythroderma.
Results: The mean age of 64 patients was 53.33 ± 14.13
years. Pruritus is the most frequent complaint (70.31%). The common laboratories
were hyperimmunoglobulinemia (Ig) E (57.81%), elevated ESR (56.25%),
hypoalbuminemia (51.57%) and leukocytosis (40.63%). The percentage of increased
total serum IgE levels was statistically different between eczema and psoriasis
(p = 0.014). Skin biopsy revealed the cause in 76.56% of 64 patients. Psoriasis
was the predominant etiology (60.94%), followed by eczema (20.31%).
Conclusions: The histopathology yielded the typical features of
underlying cause in most cases. The increased IgE levels may be a helpful tool
to distinguish psoriasis and eczema with atypical clinical settings.
Keywords: erythroderma, Immunoglobulin E, histopathology