Tạp chí Y học Thành phố Hồ Chí Minh, 22(6):131. DOI
Lượt xem: 509 Lượt tải PDF: 25
Trương Thanh Yến Châu*, Trần Minh Hoàng**, Phạm Nhật Tuấn***, Nguyễn Đỗ Nguyên***
Đặt vấn
đề: Tỉ lệ thừa
cân béo phì ở trẻ dưới 5 tuổi tại các trường mẫu giáo ở thành phố Thủ Dầu Một
đã tăng từ 11,3% năm 2012 lên 13,6% năm 2016. Tuy nhiên, báo cáo sơ kết của dự
án cải thiện tình trạng dinh dưỡng trẻ em năm 2016 tại Bình Dương cho thấy công
tác quản lý trẻ em dưới 5 tuổi còn nhiều bất cập dẫn đến chất lượng cân đo chưa đạt so với
yêu cầu được đề ra, do đó, tỉ lệ thừa cân, béo phì được báo cáo có thể chưa
chính xác.
Mục tiêu
nghiên cứu: Xác
định tỉ lệ thừa cân, béo phì ở trẻ 3 - 5 tuổi tại các trường mẫu giáo thành phố
Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương năm 2017.
Phương
pháp: Đây là một
khảo sát cắt ngang trên toàn bộ dân số trẻ em từ 3 đến 5 tuổi đang theo học ở
59 trường mẫu giáo năm 2017. Những nhân viên y tế của trạm y tế phụ trách y tế
trường học được tập huấn trước về kỹ thuật cân đo. Đánh giá thừa cân, béo phì dựa
vào cân nặng/chiều cao so với quần thể tham chiếu của Tổ chức Y tế Thế giới năm
2006 (áp dụng với trẻ < 5 tuổi), và chỉ số khối cơ thể theo tuổi so với quần
thể tham chiếu của Tổ chức Y tế Thế giới năm 2007 (áp dụng với trẻ 5 - 9 tuổi).
Phép kiểm chi bình phương được sử dụng để so sánh tỉ lệ thừa cân, béo phì giữa
các nhóm. Mức độ kết hợp được ước lượng bằng tỉ số tỉ lệ hiện mắc, và khoảng
tin cậy 95% của tỉ số tỉ lệ hiện mắc.
Kết quả: Tỉ lệ thừa cân, béo phì chung ở 15,137 trẻ 3 - 5 tuổi là 24%, trong đó
thừa cân là 12% và béo phì là 12%. Tỉ lệ thừa cân là tương đương ở hai giới
(12%) nhưng trẻ nam béo phì nhiều hơn nữ (tương ứng 16% và 8%). Tỉ lệ thừa cân
và béo phì tăng dần theo nhóm tuổi (tỉ số tỉ lệ hiện mắc = 1,70, khoảng tin cậy
95% (1,63 – 1,78), p < 0,01); cao hơn ở các nhóm nam (tỉ số tỉ lệ hiện mắc =
1,40, khoảng tin cậy 95% (1,32 - 1,48), p < 0,01), hoặc loại hình trường
công lập (tỉ số tỉ lệ hiện mắc = 1,10, khoảng tin cậy 95% (1,01 - 1,14), p =
0,01) và sự khác biệt là có ý nghĩa thống kê.
Kết luận:
Kết quả nghiên cứu
khẳng định
tính chính xác của những số liệu đã được báo cáo trong năm 2016 về tỉ lệ thừa
cân béo phì ở trẻ mẫu giáo thành phố Thủ Dầu Một, và có thể được xem là những dữ
kiện cơ sở để đánh giá hiệu quả của những chương trình can thiệp phòng chống thừa
cân béo phì ở trẻ mẫu giáo trong những năm tiếp theo.
Từ khóa: Thừa cân, béo phì, trẻ mẫu
giáo, thành phố Thủ Dầu Một.
Background: The proportion of overweight and obesity among
kindergarten children under 5 years old in Thu Dau Mot city has increased
from 11.3% in 2012 to
13.6% in 2016. However, the 2016 interim report by the project improving the
nutritional status of Binh Duong children has reviewed some limitations as low
validity of anthropometric data which could result in an imprecise reported
prevalence of overweight and obesity.
Objectives: To determine the prevalence of overweight and obesity of kindergarten
children aged 3 - 5 years in Thu Dau Mot city, Binh Duong province in 2017.
Methods A cross-sectional survey was
conducted on the entire population of children 3 - 5 years old at 59
kindergartens in 2017. Health workers in charge of school health were trained
in anthropometric measuring techniques before data collection. Overweight or
obesity was assessed using weight for height index based on the 2006 World
Health Organization reference population (for children under 5 years), or the
body mass index for age based on the 2007 World Health Organization reference
population (for children 5 - 9 years). Chi square test was used to compare the
proportion of overweight and obesity among groups, and magnitude of association
was measured using the prevalence ratio with the corresponding 95% confidence
interval of the prevalence ratio.
Results: The overall proportion of overweight and obesity of 15.137 children 3 -
5 years old was 24%, in which 12% was overweight, and 12% was obesity. The
proportion of overweight was equally distributed between two sexes (12%), but
boys were found more obese than girls (16% and 8%). The prevalence of
overweight and obesity was increasing among age groups (prevalence ratio =
1.70, 95% confidence interval (1.63 - 1.78), p < 0.01); higher in boys
(prevalence ratio = 1.40, 95% confidence interval (1.32 - 1.48), p < 0.01),
or public kindergarten children (prevalence ratio = 1.10, 95% confidence interval
(1.01 - 1.14), p = 0.01) and the difference was
statistically significance.
Conclusions:
The findings of
this study confirmed the prevalence of overweight and obesity among
kindergarten children in Thu Dau Mot city as reported in 2016; and were basic
data for evaluating the effectiveness of the intervention programs in
preventing overweight and obesity among kindergarten children in the next
coming years.
Key
words:
Overweight, obesity, kindergarten children, Thu Dau Mot city.