Tạp chí Y học Thành phố Hồ Chí Minh, 22(6):84. DOI
Lượt xem: 284 Lượt tải PDF: 2
Phạm Ngọc Chất*, Phan Xuân Hoa**, Phan Thị Mộng Thơ**, Nguyễn Thị Thanh Thúy**, Nguyễn Thị Nga*
Mục tiêu: Đánh giá kết quả phẫu thuật vá nhĩ lại ở bệnh
nhân viêm tai giữa mạn tính.
Đối tượng- Phương pháp
nghiên cứu: Nghiên cứu tiền cứu
mô tả 20 ca từ 22 - 63 tuổi với chẩn đoán viêm tai giữa mạn tính đã được phẫu thuật vá nhĩ
ít nhất 1 lần đến khám tại phòng khám
TMH- bệnh viện Trưng Vương trong thời gian từ tháng 01/2017 đến tháng 08/2018.
Kết quả: 1. Về đánh giá kết quả phẫu thuật vá nhĩ lại về mặt
lâm sàng: tình trạng lành màng nhĩ (màng nhĩ nguyên vẹn và đúng vị trí): Tuổi trung bình là 40,50 ± 10,23, chiếm tỷ lệ cao nhất
là 30 - 49 (70,0%),nam nhiều hơn nữ
(70,0%; 30,0%), tai T chiếm tỷ lệ cao
hơn tai P (75,0%, 25,0%). Tình trạng màng nhĩ trước phẫu thuật: thủng trung
tâm chiếm tỷ lệ cao nhất đến thủng toàn bộ, màng nhĩ lệch ngoài, thủng nửa trước
(25%, 20%, 15%, 15%) và thủng ở các vị trí khác chiếm tỷ lệ thấp hơn (5% ở mỗi
vị trí). 20 ca nghiên cứu được chia
thành 3 nhóm theo phương pháp phẫu thuật: nhóm 1: vá nhĩ đơn thuần 13 ca (65%),
nhóm 2: vá nhĩ + chỉnh hình xương con theo kiểu màng nhĩ chỏm bàn đạp 4 ca
(20%), nhóm 3: vá nhĩ + chỉnh hình
xương con theo kiểu màng nhĩ đế bàn đạp 3 ca (15%). Như vậy, vá nhĩ đơn thuần
chiếm tỷ lệ 65%, còn 35% còn lại có kèm chỉnh hình xương con kèm theo. Sau phẫu thuật 3 tháng: màng nhĩ lành trên cả 2 tai
T và P (không chia theo phương pháp phẫu thuật): 18 ca (90%), màng nhĩ lành chia theo nhóm phương pháp phẫu thuật: nhóm 1:11 ca (84,6%), nhóm 2:4 ca (100%), nhóm 3:3
ca (100%). Sau phẫu thuật 6
tháng: màng nhĩ lành trên cả 2 tai T
và P (không chia theo phương pháp phẫu thuật): 18 ca (90%), màng nhĩ lành chia theo nhóm phương pháp phẫu
thuật: nhóm 1:12 ca (92,3%), nhóm 2:3 ca (75%), nhóm 3:3 ca (100%). 2.Về đánh giá kết quả phẫu thuật vá nhĩ lại về mặt cận lâm sàng: sự cải thiện
sức nghe trên thính lực đồ: Trước phẫu thuật: +
PTA trung bình trước phẫu thuật của tai T cao hơn tai P (38,99 dB so với 50,66
dB) (không tính theo nhóm phương pháp phẫu thuật). PTA trung bình trước phẫu thuật tính theo nhóm phương pháp phẫu thuật: PTA
trung bình của nhóm 3 là kém nhất sau đó đến nhóm 2, còn nhóm 1 có PTA trung
bình tương đối khá hơn (53,3 dB; 42,07 dB; 39,21 dB). Sau phẫu thuật 3 tháng: dựa trên kết quả PTA trung bình chúng tôi nhận thấy rằng sức
nghe của nhóm 1 đã có sự cải thiện tuy chưa nhiều lắm (sau PT là 34,35 dB so với
trước PT là 39,21 dB), còn 2 nhóm còn lại sức nghe chưa có sự cải thiện. Nếu tính Hearing gain trung bình thì chênh lệch PTA
trung bình sau PT 3 tháng và trước PT là 4,86 dB ở nhóm 1 nghĩa là sức nghe đã
tăng hơn so với trước mổ nhung chưa nhiều. Sau phẫu thuật 6 tháng: tất cả các nhóm sức nghe đều tăng và tăng nhiều nhất là nhóm 3, nhóm 1 sau đó
đến nhóm 2 (PTA trung bình sau mổ so với trước mổ: 41,67 dB so với 53,33 dB;
30,32 dB so với 39,2 1dB; 40,82 dB so với 42,07 dB) (hearing gain trung bình
sau mổ chênh lệch so với trước mổ: 11,67; 8,89; 1,25). Điều này cho chúng ta thấy
rằng tuy có tổn thương xương con nhưng sau phẫu thuật thính lực vẫn có thể được
cải thiện. Thính lực đồ được cải
thiện tính theo ca: 8 ca (40%). Chúng tôi cũng nhận
thấy không có mối liên quan giữa tình trạng lành màng nhĩ với tuổi và tình trạng
màng nhĩ trước PT (p > 0,05). Cũng như không có mối liên quan giữa PTA
trung bình trước mổ với tình trạng màng nhĩ trước PT (p > 0,05). Không có mối
liên quan giữa số lần BN đã được phẩu thuật trước đó với nhóm phương pháp phẩu
thuật cũng như với PTA trung bình trước phẩu thuật (p > 0,05).
Kết luận: Viêm tai giữa mạn tính đã phẫu
thuật có thể 1 lần hoặc nhiều lần thất bại phải phẫu thuật vá nhĩ lại có thề
kèm chỉnh hình xương con xảy ra ở mọi lứa tuổi, chiếm tỷ lệ cao nhất ở tuổi từ
30 - 49, gặp ở nam > nữ, tai T nhiều hơn tai P, màng nhĩ thủng
trung tâm chiếm tỷ lệ cao nhất, số ca nghiên cứu được chia thành 3 nhóm theo
phương pháp phẫu thuật: vá nhĩ đơn thuần, vá nhĩ kèm chỉnh hình xương con theo
kiểu màng nhĩ chỏm bàn đạp và vá nhĩ kèm chỉnh hình xương con theo kiểu màng
nhĩ đế bàn đạp. Tỷ lệ có tổn thương xương con là 35%. Tỷ lệ lành màng nhĩ ở cả
3 nhóm sau phẫu thuật 6 tháng là 90%. Thính lực đồ cả 3 nhóm đều có cải thiện
sau phẫu thuật 6 tháng. Tỷ lệ cải thiện trên thính lực đồ là 40%. Không có mối
liên quan giữa tỷ lệ lành màng nhĩ với tuổi và tình trạng màng nhĩ trước PT.
Không có mối liên quan giữa PTA trung bình trước phẫu thuật với tình trạng màng
nhĩ trước PT. Và cũng không có mối liên quan giữa số lần BN đã phẫu thuật với
nhóm phương pháp phẫu thuật cũng như với PTA trung bình trước phẫu thuật.
Từ khóa: Viêm tai giữa mạn tính, phẫu thuật vá nhĩ lại.
Objectives: To evaluate the results of revision
tympanoplasty in patients with chronic otitis media.
Subjects and methods: The prospective study includes 20 cases from 22 - 63 years old with
diagnosis of chronic otitis media who have had at least one tympanoplasty surgery are being admitted at the clinic of Ear, Nose and Throat of Trưng Vương Hospital in the
period from 01/2017 to 08/2018.
Results: 1. Regarding the results of
clinical revision tympanoplasty: status of intact and in place tympanic membrane: Averaged age is 40.50 ± 10.23. Of which the highest
proportion is aged 30 - 49 (70.0%), male more than female (70.0%, 30.0%). The
left ear is higher rate than right ear (75.0%, 25.0%). Preoperative status of tympanic membrane is the most common central perforation of eardrum, the total perforation of eardrum, the false position of eardrum, the total perforation of eardrum (25%, 20%, 15%, 15%) and
perforation of other positions, the rate is
lower (5% in each position). 20 cases were divided
into 3 groups according to the surgical methods: Group 1: myringoplasty alone 13 cases (65%). Group 2: tympanoplasty
combined with ossicular chain reconstruction of tympanic membrane - the head of
stapes type 4 cases (20%). Group 3: tympanoplasty combined with ossicular chain
reconstruction of tympanic membrane - the footplate of stapes type 3 cases (15%). As such, myringoplasty alone accounts for 65%, while the
remaining 35% has an ossicular chain
reconstruction attached. After the 3
- month surgery: Intact
and in place tympanic membrane on the left and right ears (not
according to surgery methods): 18 cases (90%). Intact and in place tympanic membrane on the left and right
ears according to surgery methods: Group 1:11 cases (84.6%),
Group 2:4
cases (100%), Group 3:3 cases (100%).
After the 6
- month surgery: Intact
and in place tympanic membrane on the left and right ears (not
according to surgery methods): 18 cases (90%). Intact and in place tympanic
membrane on the left and right ears according to
surgery methods: Group 1: 12 (92.3%), Group2: 3 cases (75%), Group3: 3 cases (100%). 2.
Regarding the evaluation of subclinical revision
tympanoplasty outcomes: improvement the hearing level in audiogram: Before surgery: the mean PTA before surgery, the left ears were higher than the right ears (38.99 dB compared with 50.66 dB) (not according
of surgery methods). The mean PTA before
surgery (according of surgery methods): group 3 was the lowest,
followed by group 2 while group1 had a relatively
better mean PTA (53.3 dB, 42.07 dB,
39.21 dB). After the 3
- month surgery: based on mean PTA results, we found that the hearing level of the group 1 improved but not very much (after surgery 34.35 dB compared with before surgery 39.21dB), while the
remaining two groups have no improvement. If the mean Hearing gain is calculated, the difference in mean PTA over the 3 - month surgery and before surgery was 4.86 dB in group 1. After the
6 - month surgery: all groups have increased hearing
level and
increase the highest in group 3, group 1 followed by group 2 (mean PTA after
surgery compared to before surgery: 41.67% compared to 53.33%, 30.32% compared
to 39.21%, 40.82% compared to 42.07%) (mean hearing gain after
surgery compared to before surgery: 11.67, 8.89, 1.25). This shows that
although there is ossicular chain damage,
postoperative hearing level can still be
improved. The hearing level improved according of each case: 8 cases (40%). We also found no relationship between status
of intact tympanic membrane with age and status
of tympanic membrane before surgery (p
>
0.05). There was no correlation between preoperative mean PTA with status of tympanic membrane before surgery (p > 0.05). There was no correlation between the
number of previous surgical procedures with the surgical method groups as well as the
preoperative mean PTA (p > 0.05).
Conclusions: Chronic otitis media operated may be failed once or several times. Revision tympanoplasty combined with ossicular
chain reconstruction occurs at any age, at
the
highest rate age. 30 - 49, for more male than female, the left ears more than right ears, the central perforation of eardrum
is the
highest rate, the number of cases is divided into 3 groups according to
surgical methods: myringoplasty alone, tympanoplasty combined with ossicular chain
reconstruction of tympanic membrane - the head of stapes type, tympanoplasty
combined with ossicular chain reconstruction of tympanic membrane - the
footplate of stapes type. The incidence of ossiculoplasty was 35%. Successful
closure of the tympanic membrane
perforation in 3 groups after surgery was 90%. The improvement rate on the audiogram was 40%.
There was no correlation between
status of intact and in place tympanic membrane with age and status of tympanic membrane before surgery.There was no
relationship between the mean PTA prior to
surgery with status of tympanic membrane before surgery. And there was no
correlation between the number of previous surgical procedures with the
surgical method groups as well as the preoperative mean PTA.
Keywords: Chronic otitis media, revision
tympanoplasty.