Tạp chí Y học Thành phố Hồ Chí Minh, 22(4):151. DOI
Lượt xem: 312 Lượt tải PDF: 13
Nguyễn Thị Cẩm Xuyên*, Trần Quốc Việt*, Tạ Huy Cần*, Hồ Tấn Thanh Bình**, Trương Quang Định*
Đặt vấn đề: Teo ruột non là một trong những nguyên nhân thường
gặp nhất gây tắc ruột ở trẻ sơ sinh. Tuy nhiên, điều trị teo ruột non ở các nước đang phát triển như Việt Nam vẫn còn những
khó khăn nhất định do tồn tại nhiều vấn đề hạn chế.
Mục tiêu: Đánh giá kết quả sớm của
điều trị phẫu thuật các trường hợp teo ruột non bẩm sinh.
Đối tượng và phương pháp
nghiên cứu: Đối tượng: Bệnh nhân
bị teo ruột non đã được chẩn đoán và phẫu thuật tại bệnh viện Nhi đồng 2 trong
khoảng thời gian 2,5 năm từ tháng 9/2013 đến 2/2016. Phương pháp nghiên cứu: Hồi
cứu mô tả loạt ca.
Kết quả: Tổng số có 80 bệnh nhân được phẫu thuật (37 nam, 43 nữ). Trung vị tuổi
nhập viện: 19,5 giờ (1 - 336 giờ). Trung vị tuổi phẫu
thuật: 55,5 giờ (5,5 - 368 giờ). Có
41 ca teo hỗng tràng (51,3%), 39 ca
teo hồi tràng (48,7%). Cắt nối ruột chiếm tỉ lệ
60% còn lại là mở ruột ra da 40%. Biến chứng sau mổ thường gặp gồm: hội chứng
ruột ngắn (11,2%), thủng ruột (7,5%), chậm hoạt động miệng nối (7,5%). Thời gian nằm viện trung bình: 37,7 ± 20,1 ngày. Có 19 trường hợp
tử vong sau mổ chiếm tỉ lệ 23,7%.
Kết luận: Hội chứng ruột ngắn, chậm hoạt động miệng nối và
thủng ruột là những biến chứng sau mổ nguy hiểm nhất làm kéo dài thời gian điều
trị, nuôi ăn tĩnh mạch. Trên nhóm bệnh nhân phải nuôi ăn tĩnh mạch kéo dài này
nguy cơ nhiễm trùng huyết và viêm phổi tăng cao dẫn đến tăng tỉ lệ tử vong sau
mổ.
Từ khoá: teo ruột non, chẩn đoán tiền sản, hội chứng ruột
ngắn, chậm hoạt động miệng nối, rò miệng nối.
Background: Intestinal atresia (IA) is the
commonest congenital neonatal intestinal obstruction. However, management of this disease in the
developing countries like Vietnam is still difficult by we have our own inherent problems.
Objectives:
The aim of this study is to
evaluate short - term outcome of surgical management of IA in the neonate.
Materials
and methods: This
study is a retrospective study of patients with IA and their postoperative
outcome in a Southern Vietnam Hospital – The Children Hospital No 2 over a
2,5-year period (between
September 2013 and February 2016).
Results: A total of 80 patients were operated (37 males, 43
females). Median age
at admission was 19.5 hours (range 1 - 336 hours) and median age at surgery was 55.5 hours (range 5.5 - 368 hours) and. 41
children (51.3%) had jejunal atresia and 39 children (48.7%) had ileal atresia.
Operative management included resection with primary anastomosis in 60% of all
patients and temporary enterostomies in 40%. Common
general postoperative
complications include: short bowel syndrome (11.2%), intestinal perforation
(7.5%), anastomotic
dysfunction (7.5%). Mean hospital stay for all cases was: 37.7 ± 20.1 days. Nineteen (23.7%) patients died.
Conclusions: Short bowel syndrome, anastomotic dysfunction, intestinal perforation seem to be the biggest problems resulting in
longer hospital stay, more feeding problems. Among
patients who require long-term total
parenteral nutrition for survival, sepsis
and pneumonia are important factors governing morbidity and mortality.
Keywords: Intestinal atresia, prenatal
diagnosis, short bowel syndrome,
anastomotic dysfunction.