Tạp chí Y học Thành phố Hồ Chí Minh, 22(4):95. DOI
Lượt xem: 347 Lượt tải PDF: 13
Lê Phước Tân*, Ngô Hồng Phúc*, Bùi Hồng Thiên Khanh*
Mục tiêu: Đánh giá kết quả điều
trị trật khớp háng bẩm sinh bằng phẫu thuật Salter kèm cắt xương đùi trong nhóm
bệnh nhi từ 8 tháng đến 6 tuổi.
Phương pháp nghiên cứu: Tiến cứu mô tả dọc tất
cả bệnh nhân trật khớp háng bẩm sinh và phẫu thuật từ 01/2015 đến 01/2017 tại khoa Bỏng-Chỉnh
hình bệnh viện Nhi Đồng 2
Kết quả: Có 38 trường hợp trẻ bị trật khớp háng bẩm sinh thỏa tiêu chuẩn lựa chọn.
Nhóm tuổi nhỏ hơn 36 tháng chiếm tỷ lệ cao hơn 76,3%. Tỷ lệ nam: nữ là 1: 2,8.
Đa số bệnh nhân bị trật khớp háng bên trái với tỷ lệ 68,4%. Đa số bệnh nhân đến
khám bệnh là do dáng đi khập khiễng chiếm tỷ lệ 68,4%. Trật khớp háng độ 3 theo
phân loại của Tonnis chiếm tỷ lệ cao nhất là 68,4%. Tất cả bệnh nhận trật khớp
háng trong nhóm nghiên cứu đều cần cắt ngắn xương. Chiều đài đoạn xương đúi cắt
ngắn chỉ từ 1 đến 2 cm, trung bình là 1,2 ± 0,3 cm. Chỉnh xoay xương đùi ra trước
quá mức chỉ thực hiện ở 55,3% trường hợp. Chỉ số ổ cối giảm rõ rệt sau mổ với độ
giảm là 13,1º, sự khác biệt này có ý nghĩa thông kê và sau mổ 3 tháng, 6 tháng
và 12 tháng. Biến chứng sau mổ ít gặp trong đó tỷ lệ tái trật khớp là 7,9%, có
26,3% trường hợp bị đau khớp từ vừa đến ít khi vận động, dấu Trendelenburg gặp ở
15,6% trường hợp sau mổ. Đánh giá kết quả sau mổ ghi nhận, kết quả rất tốt và tốt
đạt được ở 84,2%, kết quả kém chiếm 7,9% các trường hợp sau mổ.
Kết luận: Phương pháp phẫu thuật là Salter + cắt
ngắn xương đùi từ 1 đến 2 cm ở 100% trường hợp giúp đạt kết quả rất tốt và tốt ở 84,2% trường hợp. Do đó có
nên chăng thực hiện kết hợp cắt ngắn xương đùi kèm theo phẫu thuật cắt xương chậu
Salter để giúp việc nắn khớp dễ hơn vào giảm biến chứng hoại tử chỏm xương đùi
sau mổ.
Từ khóa: Trật hớp háng, phẫu thuật Salter.
Objectives: Evaluate the outcome of Salter operationin
mangement of congenital hip dysplasia at Children’s Hospital 2.
Methods: Study prospectively all the patient diagnosed
one-sided congenital hip dysplasia was managed with Salter operation from01/2015 to 01/2017.
Results: 38 cases of congenital hip replacement were
selected. Age group less than 36 months accounted for 76.3%. Male: female is 1:
2.8. Most patients asr left-sided hip at 68.4%. The majority of patients come
to the clinic for limp gait, accounting for 68.4%. Congenital hip dysplasia of
grade 3 by Tonnis accounted for the highest rate of 68.4%. All hip arthroplasty
patients in the study group needed to cut the femur. The length of the cut bone
is only 1 to 2 cm, the average is 1.2 ± 0.3 cm. Anterior excessive rotation
repair was performed in only 55.3% cases. Acetabular index was significantly
reduced postoperatively with the degree of 13.1º. This difference was
statistically significant, and after 3 months, 6 months, and 12 months.
Postoperative recurrent rate was 7.9%, and 26.3% of cases of hadmild to
moderate joint pain. Trendelenburg was found in 15.6% of cases after surgery.
Evaluation of postoperative results, very good and good results achieved at
84.2%, bad results in less than 7.9% of postoperative cases.
Conclusions: Salter operation with femur shortening from 1 cm
to 2 cm in 100% of cases achieve very good and good results in 84.2% of cases.
Therefore, should femur shortening be performed routinely to help the Salter
operation easier and to reduce postoperative avascular necrosis.
Key words: Congenital hip
dysplasia, Salter operation.