Tạp chí Y học Thành phố Hồ Chí Minh, 22(4):86. DOI
Lượt xem: 250 Lượt tải PDF: 1
Nguyễn Trần Việt Tánh*, Vũ Trường Nhân*, Trương Đình Khải*, Huỳnh Giới***
Mục tiêu: Đánh giá kết quả phẫu thuật cắt gan trì hoãn sau tân hóa trị trước mổ theo phác
đồ SIOPEL trong điều trị bướu nguyên bào gan ở trẻ em tại bệnh viện Nhi Đồng 2.
Phương pháp nghiên cứu: Hồi cứu hồ sơ tất cả
bệnh nhân được chẩn đoán bướu nguyên bào gan đã điều trị tân hóa trị trước mổ
theo SIOPEL và phẫu thuật tại bệnh viện Nhi Đồng 2 từ 01/2012 đến 03/2017.
Kết quả: Trong 36 trường hợp nghiên cứu, tuổi trung bình của
các bệnh nhân là 19 tháng và nhóm tuổi ≤ 2
tuổi chiếm đa số (77,8%). Tỷ lệ nam: nữ là 1,4: 1. Gan to là triệu chứng thường
gặp nhất trên lâm sàng (40%). Tân hóa trị trước mổ làm giảm kích thước bướu
đáng kể và có ý nghĩa về mặt thống kê. Bên cạnh đó khả năng cắt trọn bướu cũng
được tăng lên đáng kể (17%) và cũng có ý nghĩa về mặt thống kê. Có 63,9% trường
hợp được cắt gan điển hình, 27,8% trường hợp được cắt bướu gan và chỉ có 8,3%
trường hợp không cắt được bướu gan mà chỉ được sinh thiết. Tất cả các trường hợp
cắt gan đều có bờ phẫu thuật sạch tế bào ung thư. Chảy máu là tai biến có thể gặp
trong mổ (5,5%). Rò mật và tắc mật sau mổ là biến chứng thường gặp (8,3%) và cần
phải được can thiệp lại bằng phẫu thuật. Thời gian nằm hồi sức ngắn (1,5 ngày), thời gian cho ăn bằng đường miệng ngắn
(2,2 ngày), thời gian nằm viện có thể chấp nhận được (25,4 ngày). Tỷ lệ tái
phát sau mổ là 15,2%.
Kết luận: Tân hóa tri trước mổ giúp tăng khả năng cắt trọn bướu nguyên bào gan.
Từ khóa: Bướu nguyên bào gan,
tân hóa trị, cắt gan.
Objectives: Evaluate the outcome of delayed hepatectomy
following neoadjuvant chemotherapy in mangement of pediatric
hepatoblastoma at Children’s Hospital 2.
Methods: Study retrospectively the medical documents of all
the patients diagnosed hepatoblastoma were managed with neoadjuvant
chemotherapy based on SIOPEL protocol and operated at Children’s
Hospital 2 from 01/2012 to 03/ 2017.
Results: In 36 cases studied, mean age was 19 months andage group ≤ 2 years was 77.8%. Male: female ratio was 1.4: 1. Hepatomegaly was the most common symptom (40%).
Neoadjuvant chemotherapy helped to reduced the tumor volumesignificantly.
Besides, the resectability of the tumor also increased significantly (17%). Formal hepatectomy was performed in 63.9%, wedge resection
was performed in 27.8% and và tumor
biopsy was only performed in 8.3%. All the surgical
margins were clear. Intraoperative
hemorrhage could happen (5.5%). Biliary fistula
and obstruction were common complications (8.3%) and had to be operated. The
ICU time was short (1.5 ngày), the oral feeding time was short (2.2 ngày), the
hospital stay was acceptable (25.4 ngày). The reccurent rate was 15.2% postoperatively.
Conclusions: Neoadjuvant chemotherapy facilitate the resectability of hepatoblastoma.
Key words: Pediatric hepatoblastoma, neoadjuvant chemotherapy.