Tạp chí Y học Thành phố Hồ Chí Minh, 22(2):126. DOI
Lượt xem: 258 Lượt tải PDF: 4
Vương Thừa Đức*, Phạm Hiếu Liêm**, Trần Minh Hiếu***
Đặt vấn đề: Thoát vị vết mổ thành bụng (TVVMTB) là biến chứng
muộn thường gặp sau phẫu thuật mở bụng. Việc điều trị bằng khâu thành bụng đơn
thuần thường khó khăn với tỷ lệ tái phát khá cao. Việc dùng mảnh ghép đã được
chứng minh là làm giảm tái phát nhưng chưa được báo cáo nhiều ở VN. Vì vậy
nghiên cứu này nhằm khảo sát kết quả sớm và muộn của kỹ thuật mổ dùng mảnh ghép
này.
Phương pháp nghiên cứu: Hồi cứu mô tả báo cáo loạt ca
trong hơn 6 năm (01/2011 - 03/2016) tại BV Bình Dân.
Kết quả: Đã có 88 trường hợp TVVMTB được mổ. Tuổi trung bình là 62,3 ± 14, gồm 67 nữ và 21 nam. Tất cả
đi khám bệnh vì khối phồng vùng bụng với thời gian trung bình là 2,2 năm, trong
đó có 10 BN (10,2%) đã từng mổ TVVM ít nhất 1 lần.
Vị trí thường gặp
là đường giữa (75%), trong đó nhiều nhất là dưới rốn (57,9%), còn trong những
thoát vị thành bụng bên thì hố chậu phải là nhiều nhất (19,3%). 66% BN có lỗ
thoát vị 5-10 cm và 34% >10 cm. Đa số (70,5%) có cân thành bụng mỏng hoặc
nhão.
Phẫu thuật: 90,9% BN được
khâu thành bụng và đặt Mesh tăng cường trước cân, chỉ có 8 BN (9,2%) đặt Mesh
trong cân. Kết quả: 12 BN có biến chứng sau mổ
(13,6%), trong đó tụ dịch cao nhất (6 BN), kế đến là chảy máu, nhiễm trùng, hoại
tử da (mỗi loại là 2 BN). Có 2 BN tái phát (2,4%) sau 1 năm đặt mảnh ghép. Cả 2
trường hợp này đều tái phát trong năm đầu và đều là nữ, > 50 tuổi, BMI >
25, lỗ thoát vị dài >10cm, vị trí giữa dưới rốn, đã từng mổ TVVMTB bằng phương pháp khâu thành bụng trước đây.
Kết luận: Phục hồi thành bụng bằng mesh có tỷ lệ tai biến
biến chứng thấp (13,6%) và thường là nhẹ, không phải mổ lại, với tỷ lệ tái phát
thấp (2,4%).
Từ khoá: Thoát vị, mảnh ghép polypropylen
Purpose: Abdominal incisional hernia is a common late
complication after laparotomy. Tissue based repair with single suture is of
high recurrence rates. Mesh based repair was proved better in western countries
with low recurrence rates but there were few of such report in VN so now. This
study is to survey the complications and recurrence of mesh reair in treatment
of abdominal incisional hernias.
Methode: Retrospective case series study in Binh Dan
hospital in 6 years (2011-2016).
Results: There were 67 female and
21 male patients of incisional hernia operated. Their mean age was 62.3 ± 1. All of them admitted with lumps on or near the
operative scars. The most common location among the midline hernias was sub-umbilical (57.9%) and the most common among
location the lateral hernias was the right lower quadrant (19.3%). All patients
had large hernias with the defects longer than 5 cm (66% from 5 to 10 cm, 34%
> 10 cm) and 70% among them were of thin, weak abdominal fascias.
Operations performed: 80 (90.9%) abdominal closures with onlay
mesh reinforcement and 8 (9%) inlay mesh repairs.
The oprative results: 12
(13.6%) complications; composing 6 subcutaneous fluid collections, 2
hemorrhages, 2 infections, 2 skin necroses. None of them needed reopating or
mesh removal. There were 2 patients recurred (2.4%) after 1 year. Both of them
were female, age>50, BMI>25, defect >10cm, sub-umbilical, and with
previous recurrent histories.
Conclusion: Mesh based repair for abdominal incisional
hernia is safe with slight complications and low recurrence rates (2.4%).
Key words: hernia, polypropylene mesh