Tạp chí Y học Thành phố Hồ Chí Minh, 21(5):250. DOI
Lượt xem: 145 Lượt tải PDF: 0
Nguyễn Hoàng Định, Vũ Tam Thiện
Mở đầu: Thông liên nhĩ (TLN) là dị tật tim bẩm sinh phổ
biến với đặc điểm luồng thông trái-phải giữa 2 buồng nhĩ và hầu hết các bệnh
nhân không có biểu hiện triệu chứng lúc nhỏ. Tuy nhiên, nếu không được điều trị
kịp thời, bệnh sẽ diễn tiến đến suy tim, tăng áp lực động mạch phổi, tử vong.
Phẫu thuật kinh điển qua đường mở dọc toàn bộ xương ức là phương pháp điều trị
triệt để dị tật và hầu như không có tỉ lệ tử vong. Một số trường hợp có thể điều
trị với can thiệp đóng TLN bằng dụng cụ. Những năm gần đây, phẫu thuật tim ít
xâm lấn phát triển mạnh trên thế giới và đã được chứng minh là an toàn, đạt kết
quả điều trị tương đương các phương pháp nói trên và đem lại thêm các lợi ích
khác cho bệnh nhân. Số lượng phẫu thuật đóng TLN
được thực hiện bằng kĩ thuật ít xâm lấn tại các nước có nền y tế phát triển đã
vượt quá con số thực hiện bằng phương pháp kinh điển. Đề tài này nhằm mục tiêu
đánh giá kĩ thuật thực hiện và kết quả ngắn hạn của phẫu thuật đóng TLN ít xâm lấn qua đường mở ngực nhỏ bên phải, được nội
soi lồng ngực hỗ trợ và rút ra những kinh nghiệm trong thời gian đầu triển khai
kĩ thuật mới.
Đối tượng – Phương pháp
nghiên cứu: Hồi cứu mô tả loạt ca
các bệnh nhân được phẫu thuật đóng TLN ít xâm lấn qua đường mở ngực nhỏ bên phải
có nội soi lồng ngực hỗ trợ tại bệnh viện Đại học Y Dược Thành phố Hồ Chí Minh
từ tháng 7/2014 đến tháng 7/2016.
Kết quả: Có 30 trường hợp phẫu thuật đóng TLN qua đướng mở
ngực nhỏ bên phải, trong đó có 3 trường hợp kênh nhĩ thất bán phần, 2 trường hợp
lỗ TLN thể xoang tĩnh mạch chủ dưới, 1 trường hợp TLN thể xoang tĩnh mạch chủ
trên, 24 trường hợp TLN lỗ thứ phát , tuổi trung bình 29.6 ± 12.7 tuổi. Tỷ lệ nam: nữ là 1 : 2.1. Cả 3 trường
hợp kênh nhĩ thất đều có kèm sửa van nhĩ thất trái. Trong nhóm TLN thể xoang
tĩnh mạch, có 1 trường hợp cần sửa van 3 lá. Trong nhóm TLN lỗ thứ phát, có 1
trường hợp sửa chữa bất thường hồi lưu tĩnh mạch phổi toàn phần và được sửa 2
van nhĩ thất, có 2 trường hợp được sửa van 2 lá, 10 trường hợp được sửa van 3
lá, còn lại là những trường hợp chỉ đóng TLN đơn thuần. Về vấn đề biến chứng
trong và sau phẫu thuật, 1 trường hợp cần chuyển qua đường mở dọc toàn bộ xương
ức do cầm máu phẫu trường khó khăn. Không có trường hợp tử vong.
Kết luận: Phẫu thuật đóng TLN ít
xâm lấn qua đường mở ngực nhỏ bên phải hỗ trợ bởi nội soi lồng ngực an toàn, hiệu
quả, giảm sang chấn về thể chất và tinh thần cho người bệnh, nhất là ở những bệnh
nhân nữ và bệnh nhi. Kỹ thuật ít xâm
lấn được áp dụng ngày càng rộng rãi và hoàn thiện. Tuy nhiên, vẫn còn những
thách thức kĩ thuật trong việc tiến đến nội soi hoàn toàn và vấn đề đường cong huấn luyện kéo dài. Việc chọn lựa bệnh
nhân hợp lý và tuân thủ nghiêm ngặt các quy định về an toàn phẫu thuật sẽ giúp
đem lại kết quả tốt nhất cho người bệnh.
Từ khóa: Phẫu thuật
tim ít xâm lấn, đường mở ngực nhỏ bên phải, nội soi lồng ngực, thông liên nhĩ.
Background – Objectives: Atrial septal defect (ASD) is a common congenital
heart disease characterized by left to right shunt between atria and most of
the patients are asymptomatic throughout childhood. Without being treated
appropriately, patients with ASD will suffer from irreversible complications.
Surgical closure is the treatment of choice. Some cases are able to be treated
with catheter-based intervention. Recently, minimally invasive cardiac surgery
for atrial septal defect closure (MICS-ASD closure) is under rapid development
worldwide. Recently, MICS cases were documented with safety, good result and
benefits in quality of life for patients. The number of MICS-ASD closure is
exceeding that of conventinal method via sternotomy in developped countries.
The study aimed for the assessment of indications, techniques and early results
of MICS-ASD closure and the experience in building a new technique in our
center.
Method: Our restrospective reviewed 30 patients underwent
MICS-ASD closure at the University Medical Center at Ho Chi Minh City from
07/2014 to 07/2016.
Results: 30 patients underwent MICS-ASD closure, included
3 cases of partial atrioventricular septal defect, 3 cases of sinus venosus
atrial septal defect, 24 cases of secundum atrial septal defect. Mean age was
29.6 ±
12.7. Male to female ratio was 1 : 2.1. All of 3 patients with atrioventricular
septal defect had bilateral atrioventricular valves repaired. 1 in 3 patients
with sinus venosus defect had tricuspid valve repaired. In the secudum atrial
septal defect group, we documented 1 cases of cardiac type total anomalous
pulmonary venous return and bilateral atrioventricular valve regurgitation need
to be repaired, 2 patients had mitral valve repaired, 10 patients had tricuspid
valve repaired and the rest are cases with atrial septal defect closure only.
We encountered 1 complication: 1 case with unsuccessful hemostasis from right
internal mammary artery injury that required converting to full sternotomy.
Mortality rate was 0.
Conclusions: In our experiences with MICS-ASD closure, the
early outcomes are satisfactory with low morbidity and no mortality. This is
one of the alternative techniques in cardiac surgery that is widespread and
gradually completed. Though MICS is safe
and feasible approach, well-trained cardiac team, good patient selection and
safety protocols are keys for successful results.
Key words: Minimally invasive cardiac surgery,
minithoracotomy, thoracic endoscopy, atrial septal defect.