Tạp chí Y học Thành phố Hồ Chí Minh, 20(5):49. DOI
Lượt xem: 144 Lượt tải PDF: 1
Đôn Thị Thanh Thủy*, Hà Thanh Yến Trang*, Lý Huy Khanh*, Ngô Thị Mỹ Phượng*, Nguyễn Thị Hồng Nhung*
Mở đầu: Sử dụng thuốc kháng vitamin K ở người bệnh rung
nhĩ hoặc van tim cơ học, với theo dõi INR được thực hiện thường xuyên. Nhưng do
sự tác động của thuốc có nhiều yếu tố ảnh hưởng, không có hiệu quả dự phòng huyết
khối khi INR thấp và ngược lại, nguy cơ xuất huyết khi INR cao. Nên cần được
đánh giá hiệu quả qua INR, và TTR để định hướng điều trị.
Mục tiêu: Xác định trung bình tỉ lệ trong
ngưỡng điều trị INR; Xác định thời gian trong ngưỡng điều trị INR; Xác định các yếu
tố liên quan đến tỉ lệ và thời gian trong ngưỡng điều trị INR.
Phương pháp: Mô tả hàng loạt ca.
Kết quả: Khảo sát 111 người bệnh rung nhĩ hoặc có van tim cơ học đang điều trị kháng
vitamin K Tuổi trung bình 65,1 ± 10,9. Nữ chiếm 54,1%. Van tim cơ học: 13,5%,
rung nhĩ không có bệnh van tim: 53,2%, rung nhĩ kèm bệnh van tim: 33,3%. Tỉ lệ
người bệnh biết khoảng INR hiệu quả 57,7%. Trung bình tỉ lệ đạt INR trong
ngưỡng điều trị ở van cơ học 50,6 ± 25,5 cao hơn ở rung nhĩ 30,3 ± 27,8, chung
là 33,1 ± 28,3. Thời gian trong ngưỡng điều trị đạt ≥ 70%: của van cơ học
26,7% cao hơn của rung nhĩ 13,5%, chung là 15,3%. Sự hiểu biết về khoảng INR cần
đạt liên quan thời gian trong ngưỡng điều trị OR= 4,1 [1,1 – 15,2]. Tuổi ở nhóm
đạt thời gian trong ngưỡng điều trị INR thấp hơn nhóm không đạt (62,5 ± 9,8 và
65,5 ± 11,0). Thời gian sử dụng thuốc kháng vitamin K ở nhóm đạt lâu hơn nhóm
không đạt (7,3 ± 4,9 và 5,1 ± 4,0).
Kết lụân: Điều trị kháng vitamin K ở người bệnh rung nhĩ hoặcvan tim cơ học đạt ngưỡng
điều trị thấp.
Từ khóa: Thời gian trong ngưỡng điều trị, chỉ số chuẩn hoá
quốc tế, Thuốc kháng vitamin K.
Background: Use of vitamin K antagonists
in patients with atrial fibrillation or mechanical heart valves, with INR
monitoring is done regularly. But due to the effects of the drug has many
factors that influence, not effective thromboprophylaxis when the INR is low
and vice versa, the risk of bleeding when high INR. Should be evaluated
effectively by INR, and TTR to guide treatment.
Objectives: Determine the average rate of INR in the range
of treatment; determine the percent time in
therapeutic INR range; Identify factors related to the rate of INR in
the range of treatment and time in therapeutic INR
range.
Methods: A case series
Results: Surveyed 111 patients with atrial fibrillation
or mechanical heart valves using vitamin K antagonists. 65.1 ± 10.9 years old
average. Women are 54.1%. Mechanical heart valves: 13.5%, atrial fibrillation
without valvular heart disease: 53.2%, atrial fibrillation with mitral valve
disease: 33.3%. The rate of patients knows about target
INR range: 57.7%.
Average rate of INR in the range of treatment of mechanical valve: 50.6 ± 25.5,
atrial fibrillation: 30.3 ± 27.8, total: 33.1 ± 2. Time
in therapeutic INR range ≥ 70%: mechanical valve 26.7%, atrial
fibrillation is 13.5%, and total is 15.3%. Understanding of approximately INR
target is related to the time in therapeutic INR
range OR = 4.1 [1.1 to 15.2]. The average age of the group with Time in therapeutic INR range ≥ 70% is lower the
other group (62.5 ± 9.8 and 65.5 ± 11.0). Time use of vitamin K antagonists in
group Time in therapeutic INR range ≥ 70% is
longer than the other group (7.3 ± 4.9 and 5.1 ± 4.0).
Conclusion: Use in patients with
vitamin K antagonist atrial fibrillation or mechanical heart valves, the INR
and TTP achieved treatment targets low.
Keywords: TTR, Time in Therapeutic Range, INR,
International Normalized Ratio, VKA, Vitamin K Antagonis