HO CHI MINH CITY JOURNAL OF MEDICINE
banner

HIỆU QUẢ BAN ĐẦU CỦA HUYẾT THANH KHÁNG NỌC RẮN HỔ ĐA GIÁ TRÊN BỆNH NHÂN BỊ RẮN CẠP NIA CẮN TẠI KHOA BỆNH NHIỆT ĐỚI BỆNH VIỆN CHỢ RẪY

THE PRELIMINARY EFFICACY OF POLYVALENT COBRA ANTIVENOM FOR BUNGARUS CANDIDUSBITES

Bấm tải bài viết

Tạp chí Y học Thành phố Hồ Chí Minh, 20(2):432. DOI

Lượt xem: 1054 Lượt tải PDF: 6

Tác giả

Trần Quang Bính*, Trần Thanh Hiền*, Nguyễn Thị Thủy Ngân*

Tóm tắt

Đặt vấn đề: Theo Tổ chức Y tế thế giới (WHO), hằng năm trên thế giới ước tính có khoảng 1 tỉ người bị rắn cắn, gây tổn thất kinh tế hàng tỉ đô la và bùng phát ở những vùng xa xôi. Đây được xem là “bệnh nhiệt đới bị lãng quên”, tuy nhiên lại là nguyên nhân gây tử vong và bệnh tật quan trọng ở các nước cận nhiệt đới và nhiệt đới trong đó có Việt Nam. Cho đến nay, huyết thanh kháng nọc rắn đặc hiệu là phương pháp điều trị hiệu quả nhất, đặc biệt gần đây với sự xuất hiện của huyết thanh kháng nọc đa giá cho các loại rắn hổ giúp cho việc điều trị thêm thuận lợi. Năm 2013, tại khoa Bệnh nhiệt đới Bệnh viện Chợ Rẫy, chúng tôi đã bắt đầu sử dụng huyết thanh kháng nọc rắn đa giá điều trị cho các trường hợp rắn cạp nia cắn. Vì vậy, việc đánh giá hiệu quả của sản phẩm này là cần thiết. Nghiên cứu được thực hiện nhằm mục tiêu khảo sát số lượng bệnh nhân bị rắn cắn nhập khoa Bệnh nhiệt đới Bệnh viện Chợ Rẫy trong 3 năm 2011-2013, mô tả tỉ lệ các loại rắn và kết quả điều trị huyết thanh đa giá trên bệnh nhân bị rắn cạp nia cắn.

Phương pháp nghiên cứu: Phương pháp hồi cứu, mô tả, thu thập số liệu của tất cả bệnh nhân được chẩn đoán rắn độc cắn từ 01/01/2011-31/12/2013 tại khoa Bệnh nhiệt đới Bệnh viện Chợ Rẫy. Phân tích riêng các trường hợp rắn cạp nia cắn được điều trị bằng huyết thanh kháng nọc rắn đa giá để đánh giá hiệu lực của loại huyết thanh này.

Kết quả nghiên cứu: Tỉ lệ bệnh rắn cắn chiếm khoảng 16-19% tổng số bệnh nhân nhập viện, trung bình 820 ca/năm, tỉ lệ nam: nữ gần 2:1. Rắn lục chiếm tỉ lệ cao nhất trên 50% trường hợp, phần lớn bệnh nhân sống tại thành phố Hồ Chí Minh. Trong đó, rắn cạp nia có 22 ca, sử dụng huyết thanh kháng nọc đa giá là 4 trường hợp. Thời gian nhập viện trung bình từ lúc bị rắn cắn là 17,6 giờ, thời điểm cắn thường về đêm (15 ca, chiếm khoảng 68%), triệu chứng thường gặp là sụp mi, yếu tay chân và khó thở. Thời gian nằm viện trung bình là 9,1ngày, trong đó thời gian thở máy trung bình là 3,9 ngày, ở bệnh nhân được điều trị huyết thanh đa giá thời gian này ngắn hơn (7,8 ngày và 2,5 ngày theo thứ tự). Tử vong và nặng về 4 trường hợp (khoảng 20%), biến chứng viêm phổi hay gặp nhất (khoảng 59%). Kết quả ban đầu cho thấy tỉ lệ bệnh nặng và tử vong ở nhóm không điều trị huyết thanh cao hơn ở nhóm có điều trị huyết thanh (22,7% và 0%) và sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê.

Kết luận: Rắn độc cắn vẫn là một vấn đề trong hệ thống chăm sóc sức khỏe ở nước ta. Nghiên cứu cho thấy việc sử dụng huyết thanh kháng nọc rắn hổ đa giá có thể mang đến những hiệu quả, lợi ích nhất định trong điều trị bệnh nhân bị rắn cạp nia cắn. Tuy nhiên vì số bệnh nhân sử dụng huyết thanh kháng nọc rắn hổ đa giá còn ít, lợi ích của sản phẩm này cần được kiểm chứng những nghiên cứu với cỡ mẫu lớn hơn trong tương lai.

Từ khóa: Rắn cắn, huyết thanh kháng nọc rắn hổ đa giá, rắn cạp nia.

Abstract

Background: According to WHO, snakebites break out in remote places, causing billions in economics losses and deforming unknown numbers of the one billion people estimated to be affected. Being known as “neglected tropical diseases”, snakebites provoke a huge number of morbidity and mortality in sub-tropical and tropical countries including Vietnam. Up to now specific antivenom is still the most effective therapy worldwide, the apply of polyvalent cobra antivenom into the treatment against to Elapidae group brings more advantages recently. We have started to use the polyvalent cobra antivenom in healing cases of Bungarus candidus envenoming since 2013 at Department of Tropical Diseases in Cho Ray Hospital. Therefore, an assessment of this product is currently demanded. The study was conducted to review the number of snakebite patients admitted to Choray hospital within 3 years from 2011 to 2013, as well as prescribe the proportion of snakebite incidence and the outcome of using polyvalent cobra antivenom on Bungarus candidus bite victims.

Methods: A retrospective study of all the patients having diagnosis with snakebite at Department of Tropical Disease in Cho Ray Hospital from 2011 to 2013.

Results: The mean number of snakebite patients was 820 cases per year accounting for 16% to 19% of all inpatient at the ward of Tropical Diseases. The ratio between male and female was approximately 2. Most of snakebite cases were due to Green pit viper, constituting over 50% of total; the most popular address was in Ho Chi Minh City. There were 4 cases treated with polyvalent antivenom among of 22 patients suffering Bungarus candidus envenoming. The mean time interval between bite and arrival to hospital was 17.6 hours and the bite often occurred at night. The cardinal symptoms were blepharoptosis, dyspnea, limbweakness. The mean time of hospital stay and mechanical ventilation was 9.1 days and 3.9 days respectively while inwhich the group treated with polyvalent antivenom was lower (7.8 days and 2.5 days respectively). The primary results showed that the difference of severity and case fatality rate between two groups (group with polyvalent antivenom treatment versus group without specific treatment) wasdifferent with statistical significance (0% and 22.7% respectively).

Conclusion: Envenoming snake bites is still the problem for our health care system. The preliminary results showed that the treatment of Bungarus candidus envenoming with polyvalent cobra antivenom is likely effective. However, because of the limited numbers recruited, the usefulness of this product should be proved by large scale study in the future.

Keywords: Snakebite, polyvalent cobra antivenom, Elapidae, Bungarus candidus.