Tạp chí Y học Thành phố Hồ Chí Minh, 20(2):394. DOI
Lượt xem: 234 Lượt tải PDF: 0
Phạm Quang Vinh*, Đỗ Phước Hùng*
Mở đầu: Yêu cầu mảnh ghép gân để tái tạo dây chằng khớp gối
đang gia tăng. Ngân hàng mô hiện nay chỉ đáp ứng một phần nào yêu cầu đó. Việc
tìm kiếm nguồn gân ghép tự thân trở nên cần thiết.
Mục tiêu: Nghiên cứu giải phẫu và cơ học gân mác dài (MD).
Kết quả tái tạo dây chằng chéo trước (DCCT) bằng mảnh ghép gân MD tự thân qua nội
soi. Bước đầu xác định triển vọng làm mảnh ghép của gân MD.
Phương pháp nghiên cứu: Mô tả hàng loạt ca.
Đối tượng nghiên cứu: Trên 30 chân cắt cụt, xác định nguy cơ và hiệu quả
lấy gân MD, lực kéo đứt gân MD chập đôi , so sánh với lực kéo đứt 4 dãi gân
chân ngỗng. Khoảng cách đầu lấy gân đến nhánh thần kinh mác sâu. Áp dụng tái tạo
DCCT bằng mãnh ghép gân MD tự thân qua nội soi.
Kết quả: Trên chân cắt cụt; chiều dài trung bình gân MD
(không kể đoạn gan chân) 28,1 ± 2,35 cm (22 - 33 cm), gân cơ chân ngỗng 23,43 ±
2,47 cm (18 - 28cm); đường kích chập đôi trung bình gân MD và chân ngỗng lần lượt
là 7,27 ± 0,34mm và 6,57 ± 0,31mm. Khoảng cách từ đầu lấy gân MD đến nhánh thân
kinh mác sâu là 64,3 ± 14,47mm (40 - 92 mm). Lực cơ học gân MD và chân ngỗng lần
lượt là: lực kéo đứt tối đa trung bình 1238,33 ± 217,53N và 1125,33 ± 155,27N
(P = 0,0008); tính đàn hồi 327 ± 82 PMa và 324 ± 80MPa (P = 0,0069). Tái tạo
DCCT bằng mãnh ghép gân MD tự thân trên 150 bênh nhân. Kết quả điểm số Lysholm trước và sau phẫu
thuật 61,31 ± 10,09 và 89,8 ± 7,85 (P
< 0,0001). Thang điểm Noyes sau mổ tốt
và rất tốt chiếm 69%, khá chiếm 27%. Có sự cải thiện giảm bớt dấu hiệu mất vững
gối sau mổ tỉ lệ tốt (độ 0) 65,33%, khá (độ 1) là 22%.
Kết luận: Gân MD có khả năng trở thành nguồn ghép tự thân
trong tái tạo DCCT, là một chọn lựa thay thế trong trường hợp các mảnh ghép
kinh điển không đáp ứng được yêu cầu.
Từ khóa: gân mác dài, tái tạo dây chằng chéo trước
Background: The requirement of tendon graft for
reconstruction is increasing . It can be only partly met by tissue banks.
Finding another source of tendon graft becomes necessary.
Objective: Identify the possibility of peroneus longus
tendon (PLT) as a graft for anterior cruciate ligament (ACL) reconstruction.
Method: Case series.
Research subjects: We describe some characteristics of peroneus and
hamstring (HS) tendons in 30 fresh amputated limbs . We also measure and
compare forces to destroy doubled peroneous longus tendon and 4 bands of HS
tendons. We also evaluated the distance between stripper and peroneal during
havesting PLT. Clinical study was perform to evaluate results of ACL
reconstruction with PLT.
Result: The average lengths of the involved tendons are:
peroneus longus 28.1 ± 2.35 cm (not account its plantar segment), gracilis and
semitendinosus 23.43 ± 2.47 cm. Their average doubled diameters of peroneus
longus and doubled gracilis and semitendinosus are 7.27 ± 0.34 mm and 6.57 ±
0.31mm respectively. During tendon harvesting, the distance between the head of the tendon
stripper and the branching point of the deep peroneus nerve was 64.3 ± 14.47 mm (40 mm to 92 mm). The average failure
load of the dobled PLT and the doubled semitendinosus and gracilis tendons were
1238.33 ± 217.53 N and 1125.33 ±
155.27N (P=0.0008), respectively. Elastic module were 327 ± 82PMa và 324 ± 80MPa (P=0.0069), respectively. Studying in 150
patients (from 1/1/2009- 31/12/2013) have got ACL reconstruction with PLT. With
the clinical outcomes at following an average of 52 months. The clinical study showed
that the preoperative and postoperative Lysholm scores were 61.31 ± 10.09 và 89.8 ± 7.85 (P< 0.0001), respectively, while
Noyes scores 69% exelenct and good, 27%
fair postoperatively. Stability becam better, 65.33% grade ), 22% grade
1.
Conclusion: Peroneus longus tendon may be a source of tendon
graft as an alternative in the case that other conventional grafts can not met
the requirement of ligamentous reconstruction .
Keywords: Peroneus longus tendon, anterior cruciate
ligament reconstruction.