Tạp chí Y học Thành phố Hồ Chí Minh, 20(2):324. DOI
Lượt xem: 324 Lượt tải PDF: 17
Lê Huy Trường*, Lê Văn Chi**
Giới thiệu: Tại Việt Nam hiện nay, việc theo dõi và điều trị
đái tháo đường hầu hết dựa vào đường huyết và xét nghiệm HbA1c định kỳ 3
tháng. Đối với đái tháo đường ở phụ nữ mang thai hay đái tháo đường thai kỳ
(ĐTĐTK), đòi hỏi phải theo dõi glucose máu liên tục ít nhất 2 tuần một lần và
do đó, một chỉ số thể hiện glucose máu khácgiúp kiểm soát trong thời gian ngắn,
được xem là công cụ tiềm năng cho bác sĩ điều trị. Dựa vào thực tế lâm sàng tại
Việt Nam, nghiên cứu này được thiết kế nhằm đánh giá vai trò của fructosamine
huyết thanh với vai trò là công cụ theo dõi trong điều trị ĐTĐTK, và mối tương
quan của fructosamine huyết thanh với đường huyết đói, đường huyết 2 giờ sau ăn
và HbA1c.
Phương pháp: Nghiên cứu đoàn hệ thực hiện trên phụ nữ mang
thai được chẩn đoán ĐTĐTK qua xét nghiệm dung nạp 75 gram đường qua đường uống
tại Khoa Nội tiết, bệnh viện Chợ Rẫy, từ tháng 6/2014 đến tháng 3/2015. Trong
nghiên cứu, bệnh nhân đái tháo đường được theo dõi glucose máu 2 tuần liên tục
bằng các xét nghiệm fructosamine huyết thanh, glucose máu lúc đói, glucose máu
2 giờ sau ăn và HbA1c; tư vấn chế độ dinh dưỡng hàng ngày. Đối tượng được chăm
sóc điều trị theo quy trình thông thường tại bệnh viện, với sự theo dõi chặt sẽ
hơn của bác sĩ điều trị. Nghiên cứu viên ghi nhận tình trạng sức khỏe, nồng độ
fructosamine huyết thanh và kết quả sinh ở các thai phụ định kì 2 tuần, phân
tích dữ liệu bằng chương trình Stata 13.
Kết quả:Kết quả trên 500 thai phụ cho thấy nồng độ
fructosamine huyết thanh giảm rõ rệt trong suốt thai kỳ (133,7 ± 33,6
µmol/dL ở tuần thai < 20 và 116,3 ± 25,2 µmol/dL ở tuần thai từ 36 trở đi).
Trong thời gian nghiên cứu, có 287 bệnh nhân được ghi nhận kết cuộc sinh với tuổi
thai trung bình khi sinh là 38,5 ± 1,5 tuần, 9% đối tượng sinh con to, 2,8% đối
tượng sinh non trước 35 tuần và 9,8% đối tượng sinh non trước 37 tuần; 64,8% đối
tượng sinh mổ và không có đối tượng nào có thai tử vong chu sinh hoặc tử vong
sơ sinh. Mức fructosamine huyết thanh tham chiếu cho bệnh nhân ĐTĐTK là 112,9 ±
20,7 μmol/dL.
Kết luận: Kết quả cho thấy fructosamine huyết thanhlà một
chỉ số tiềm năng cho việc theo dõi điều trị ĐTĐTK ở Việt Nam.
Từ khóa: Đái tháo đường thai kỳ, công cụ theo dõi,
fructosamine huyết thanh.
Introduction: In Vietnam, the current monitoring and treatment
for ordinary diabetic patient mostly based on glucose monitoring with HbA1c
test for every three months. For diabetes in pregnant women or Gestational
diabetes mellitus (GDM), requires continuos glucose monitoring at least every
two weeks and therefore an alternative marker of glycemia for short-term
control is considering a potential tool for the healthcare providers. Based on
the actual practice in Vietnam, this study was designed to evaluate the role of
serum fructosamine as a monitoring tool in GDM treament and its correlations
with fasting blood glucose (G0), 2-hour postprandial glucose (G2) and
glycosylated hemoglobin (HbA1c).
Methods: A cohort study on pregnant women diagnosed with
GDM by the 75-gram oralglucose tolerance test was conducted at Endocrinology
Department, Cho Ray hospital, Vietnam from June 2014 to March 2015. In this
study, diabetic patients received a continuos glucose monitoring method which
consists of bi-weekly on-site visit every 2 weeks with glycosylated serum
protein test, fasting blood glucose test and 2-hour postprandial glucose test;
HbA1c test; and nutritious consultance for daily diet program. The subjects
still received routine treatment at the hospital, with tight follow-up from
their healthcare providers. Researchers recorded bi-weekly health conditions,
serum fructosamine level and delivery outcome from the pregnant women, using
Stata 13 programme for the analysis.
Results:On 500 pregnant women show serum fructosamine
level decreased significantly from 133,7 ± 33,6 µmol/dL at week < 20 to
116.3 ± 25.2 µmol/dL at week 36. During study timeline, the delivery outcome of
287 women were recorded with the average age of 38.5 ± 1.5 weeks, 9% of them
have macrosomia, 2.8% have premature birth before week 35th and 9.8% have
premature birth before week 37th; 64.8% of cesarean section and none of them
have perinatal or neonatal mortality. The study provides a reference interval
of serum fructosamine for GDM patient was 112.9 ± 20.7 μmol/dL.
Conclusion: The present results suggests that serum
fructosamine is a potential monitoring utility in GDM treatment for hospitals
in Vietnam.
Keywords: Gestational Diabetes
Mellitus, Monitoring tool, Serum Fructosamine.