Tạp chí Y học Thành phố Hồ Chí Minh, 20(2):263. DOI
Lượt xem: 247 Lượt tải PDF: 4
Nguyễn Tấn Cường*
Đặt vấn đề: Ung thư đường mật chiếm 5-10% trong
ung thư nguyên phát của hệ gan mật.Chẩn đoán dựa vào chẩn đoán hình ảnh và các chất chỉ điểm khối u như
CA19-9, CEA... Tại Việt Nam vẫn còn ít công trình nghiên cứu về vai trò của
CA19-9 và CEA chỉ riêng trong ung thư đường mật. Đó là mục đíchcủa nghiên cứu này.
Phương pháp nghiên cứu: Hồi cứu hàng loạt ca tất cả những bệnh
nhân được chẩn đoán u đường mật nghi ngờ là ung thư, có
làm xét nghiệm CA19-9, CEA, được mổ hoặc làm sinh thiết tại khoa ngoại Gan Mật Tụy bệnh viện Chợ Rẫy từ tháng 01/2010 đến tháng 12/2014, có kết quả giải phẫu bệnh xác định là ung thư hay bệnh lí
khác
Kết quả: 69 TH thỏa mãn điều kiện nghiên cứu, gồm 39 nam (56,5%) và 30 nữ (43,5%). Khả năng phát hiện u
đường mật qua siêu âm là 63,3%, qua CT Scan là 90,9%, qua MRI là 95,2%,qua ERCP
là 88,9%. Có 58 TH (84,1%) thực sự là ung thư đường mật (11 ung thư cuối OMC, 24
rốn gan, 23 ung thư đường mật trong gan). Trong chẩn đoán ung thư đường mật, độ
nhạy của CA19-9 cao hơn CEA, tuy nhiên độ đặc hiệu thấp hơn CEA. Khi chọn ngưỡng
CA19-9≥ 100U/ml thì độ đặc hiệu CA19-9 cải thiện hơn. Nếu kết hợp cả hai xét
nghiệm CA19-9 và CEA thì khả năng chẩn đoán ung thư đường mật sẽ tăng lên đáng
kể.
Kết luận: Có sự liên quan có ý nghĩa thống kê giữa CA19-9 với khả năng cắt u, giai đoạn
ung thư và tình trạng di căn hạch. Mối tương quan thể hiện rõ chủ yếu khi nồng
độ CA19-9 từ 100 U/ml trở lên.Không có mối tương quan nào giữa CEA với kích thước,
vị trí, độ xâm lấn, di căn hạch, giai đoạn hay độ biệt hóa của ung thư đường mật
Từ khóa: U đường mật, ung thư đường mật, CA19.9,
CEA
Background: Cholangiocarcinoma comprises of 5-10% of primary
hepato-biary cancer. Diagnosis was based on imaging techniques or tumor markers
such as CA19-9, CEA level...This study aims to evaluate merely the value of CA19-9
and CEA in diagnosis of cholangiocarcinoma in Vietnam.
Methods: Retrospective case- study analzysed all patients
diagnosed of biliary tumor suspecting cancer admitting to the HBP surgery
department of Cho Ray hospital during the period of May 2005 and October 2015.
All were testing of CEA and CA19.9 level, were operated or biopsied and
pathology results may be malignant or non- malignant
Results: 69 patients that met inclusion criteria
including 39male (56.5%) và 30 female (43.5%). Biliary tree tumor could be
detected by ultrasound in 63.3%, by CT Scan in 90.9%, by MRI in 95.2%, by ERCP
in 88.9% of cases. There were 58cases of cholangiocarcinoma (84.1%) including
11cancer of distal CBD, 24 hilar cholangiocarcinoma, 23 intra-hepatic
cholangiocarcinoma. CA19.9 was more sensitive than CEA in diagnosis of
cholangiocarcinoma, however the specificity was lower than CEA. The specificity
of CA19.9 in diagnosis of cholangiocarcinoma will be improved if the cutpoint
level set higher than 100U/ml. The combination of both CA19-9 và CEA testing
would improve the accurateness of diagnosis of cholangiocarcinoma.
Conclusions: CA19.9 was significantly related with the
resectability of cholangiocarcinoma, with the grade of the tumor, and with
lymph node metastasis. This significance was more obvious if the CA19-9 level
higher than 100 U/ml.No relations between CEA level with the tumor size, tumor
site, invasiveness, lymph node involvement or grade of differentiation were
noted in this study.
Keywords: Bile duct tumor, cholangiocarcinoma, CA9.9, CEA