HO CHI MINH CITY JOURNAL OF MEDICINE
banner

ĐÁNH GIÁ YẾU TỐ TIÊN LƯỢNG SAU PHẪU THUẬT TRIỆT ĐỂ U KLATSKIN ĐƯỜNG MẬT

EVALUATION OF PROGNOSTIC FACTORS AFTER RADICAL RESECTION FOR KLATSKIN’S TUMOR

Bấm tải bài viết

Tạp chí Y học Thành phố Hồ Chí Minh, 20(2):252. DOI

Lượt xem: 197 Lượt tải PDF: 1

Tác giả

Đỗ Hữu Liệt*, Nguyễn Tấn Cường**, Đoàn Tiến Mỹ*, Phạm Hữu Thiện Chí*, Lê Trường Chiến*, Nguyễn Phước Hưng*, Lê Công Khánh*, Vũ Thị Tuyết Nga*, Phùng Thanh Phong*, Lương Thị Hồng Quế*

Tóm tắt

Mở đầu: Ung thư đường mật vùng rốn gan hay còn gọi là u Klatskin đường mật là bệnh lý hiếm của đường mật. Mặc dù đã có nhiều tiến bộ trong chẩn đoán và điều trị nhưng đến nay u Klatskin đường mật có tiên lượng không tốt. Phẫu thuật triệt để vẫn còn là thách thức. Gần đây y văn đã có những công trình nghiên cứu về phẫu thuật triệt để cho bệnh này và một số yếu tố ảnh hưởng đến thời gian sống còn cũng được đề xuất. Tuy nhiên, rất ít công trình nghiên cứu riêng về các yếu tố ảnh hưởng đến thời gian sống còn sau phẫu thuật triệt để. Chính vì vậy, chúng tôi muốn nghiên cứu về vấn đề này.

Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu tiến cứu, chúng tôi ghi nhận mẫu bệnh phẩm sau khi được phẫu thuật triệt để trong 46 trường hợp trong thời gian theo dõi 5 năm và phân tích thời gian sống còn theo phương pháp Kaplain Meier và các yếu tố ảnh hưởng đến thời gian sống còn dựa trên Log rank (đơn biến) và hồi qui Cox (đa biên)

Kết quả: Từ tháng 8/2008-13/2013, chúng tôi thực hiện phẫu thuật triệt để cho 46 trường hợp u Klastskin với 32 nam (69,6%) và 14 nữ (30,4%), tuổi trung bình 51,1±9,9(35-74). Về mặt đại thể, có 31 trường hợp dạng thâm nhiễm (67,4%), 12 trường hợp dạng khối (26,1%) và 3 trường hợp dạng polyp (6,5%). Tai biến trong mổ gồm rách tĩnh mạch cửa 15 trường hợp (32,6%), rách động mạch gan 10 trường hợp (21,7%), rách tĩnh mạch cửa và động mạch gan 2 trường hợp (4,3%). Biến chứng sau mổ có 17 trường hợp rò mật (37%) đều được điều trị bảo tồn thành công. Tính chung tai biến và biến chứng là 28 trường hợp (60,9%). Có 4 trường hợp tử vong sau mổ do suy gan và nhiễm trùng huyết. Một bệnh nhân dạng polyp vẫn còn sống sau 5 năm. Chúng tôi ghi nhận có 4 yếu tố trong tổng số 13 yếu tố được phân tích có ảnh hưởng đến thời gian sống còn của bệnh nhân trên phân tích đơn biến cũng như đa biến gồm: bờ mặt cắt, giai đoạn ung thư, sự di căn hạch và hóa trị liệu.

Kết luận: Phẫu thuật triệt để Klatskin đường mật vẫn đang là thách thức với nhiều biến chứng nặng và tỷ lệ tử vong cao.Nghiên cứu về các yếu tố ảnh hưởng đến thời gian sống còn là cần thiết. Trong nghiên cứu chúng tôi có 4 yếu tố ảnh hưởng đến thời gian sống còn sau phẫu thuật gồm: bờ mặt cắt, giai đoạn ung thư, sự di căn hạch và hóa trị liệu.

Abstract

Background: Hilar cholangiocarcinoma - Klatskin’s tumor- is a rare type of bile duct cancer. Although much progress has been made in the diagnosis and management of Klatskin’s tumor, long-term outlook for most patients remains poor. Surgical resection is usually prohibited because of its local invasiveness, and most patients can only be managed by palliative drainage. Recently, many surgeons have adopted a more aggressive resection with varying degrees of success. Several prognostic factors in bile duct carcinoma have been proposed; however, no reports have specifically focused on resected hilar cholangiocarcinoma and its prognostic survival factors using the univariate analysis and multivariate analysis.

Methods: The clinical records and pathologic slides of 46 cases with resected hilar cholangiocarcinoma were reviewed prospectively for 5 years. We analyzed survival rate according to Kaplan Meier method, thirteen variables were evaluated for their significance with postoperative survival in the univariate analysis (Log-rank test) and multivariate analysis (Cox regression) for factors influencing survival.

Results: From August 2008 to December 2013, 46 patients (32 males-69.6%, and 14 females-30.4%); median age 51.1±9.9(range, 35-74) with Klatskin’s tumor were radically operated, By gross morphology, 31(67.4%) had infiltrative type and 12(26.1%) had nodular type, 3(6.5%) papillary type has been noted. There were incidental laceration of portal vein in 15 patients (32.6%), hepatic artery laceration in 10 patients (21.7%), portal vein and hepatic artery laceration in 2 patients (4.3%). Seventeen patients (37%) had bile leakage which were treated conservatively. There were 4 patients (8.7%) for post-op mortality due to septicemia and acute liver failure. The morbidities and mortalities were 28 patients (60.9%) and almost occured in infiltrative group. One patient in papillary group was living for 5 years. There were 4 factors influencing survival included surgical margin, cancer stage, lymph-node involvement and chemotherapy in the univariate analysis and multivariate analysis with p-value < 0.05.

Conclusion: Radical surgery for Klatskin’s tumor has until challenged with many severe complications. A study about factors incluencing survival was needed and our study showed that four factors affected survival which included surgical margin, cancer stage, lymph-node involvement and chemotherapy.

Keywords: Klatskin’s tumor, radical sugery, prognostic factors,univariate analysis, multivariate analysis