Tạp chí Y học Thành phố Hồ Chí Minh, 20(2):238. DOI
Lượt xem: 339 Lượt tải PDF: 16
Hồ Đăng Quý Dũng*, Trần Thanh Bình*, Trần Đình Trí*, Ngô Phương Minh Thuận*, Phạm Hữu Tùng*,Trần Như Nguyên Phương**, Vũ Văn Khiên***
Đặt vấn đề: Tỷ lệ đề kháng kháng sinh của H. pylori đang gia tăng ở nhiều nước trên thế
giới dẫn đến việc thất bại trong điều trị đã trở thành một vấn đề lớn. Kháng
sinh đồ đánh giá sự nhạy cảm với kháng sinh giúp lựa chọn các phác đồ hợp lý
trong thực hành lâm sàng. Mục tiêu của nghiên cứu là khảo sát tình hình đề
kháng kháng sinh của Helicobacter pylori (H. pylori) với 5 loại kháng sinh thường
được sử dụng để điều trị.
Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Chúng tôi phân lập
220 chủng H. pylori từ niêm mạc dạ dày của 220 bệnh nhân nhiễm H. pylori đến nội
soi tại Bệnh viện TWQĐ 108 (Hà Nội), Bệnh viện Trung Ương
Huế và Bệnh viện Chợ Rẫy (Thành phố Hồ Chí Minh). Loét dạ dày - tá tràng được
chẩn đoán qua nội soi. Viêm dạ dày mạn và ung thư dạ dày được xác định bằng mô
bệnh học. Kháng sinh đồ được thực hiện bằng phương pháp
pha loãng thạch để đánh giá nồng độ ức chế tối thiểu (MIC) với
năm loại kháng sinh amoxicillin (AMX), clarithromycin (CLR), metronidazole
(MNZ), levofloxacin (LVFX) và tetracycline (TC).
Kết quả: Trong số 220 chủng H. pylori, tỷ lệ đề kháng với AMX là 7,7%, CLR là
43,6%, MNZ 83,6%, LVFX 33,2% và TC là 10,9%. Tỷ lệ các chủng H. pylori đề kháng
với AMX, CLR, TC, và MNZ ở thành phố Hồ Chí Minh, Hà Nội và Huế không có khác
biệt có ý nghĩa thống kê. Tỷ lệ đề kháng với LVFX ở nhóm BN Tp. HCM cao hơn nhóm
BN Hà Nội (41,2% so với 21,1%, P< 0,05). Đề kháng với hai
kháng sinh CLR và MNZ là 36,8%. Có 58,2% các chủng H. pylori có đề kháng với ít
nhất 2 trong 5 loại kháng sinh. 01 chủng H. pylori (0,5%) đề kháng 5/5 loại kháng sinh. Không có mối liên quan
có ý nghĩa giữa đề kháng kháng sinh với tuổi, giới và bệnh lý lâm sàng.
Kết luận: Tỷ lệ đề kháng với CLR, LVFX và MNZ cao gợi ý rằng các phác đồ 3 thuốc chuẩn
không nên được sử dụng như phác đồ lựa
chọn đầu tiên trong điều trị tiệt trừ H. pylori. Phác đồ điều trị 4 thuốc có
Bismuth nên được cân nhắc như là liệu pháp điều trị lựa chọn.
Từ khóa: Helicobacter pylori, đề kháng kháng sinh
Objectives: The incidence of
antibiotic resistance in H. pylori-infected subjects is increasing worldwide
and has become a leading cause for failure of treatment. Antibiotic
susceptibility testing is very important to provide optimal regimens in the
clinical setting. Our aim is to determine the susceptibility of Helicobacter
pylori strains to 5 antibiotics.
Materials and methods: We isolated 220 H. pylori strains from the gastric
mucosa of H. pylori-infected patients from 3 areas in Vietnam (Cho Ray hospital
- Ho Chi Minh city, Hue Central hospital - Hue city and 108 hospital - Hanoi).
Peptic ulcers were diagnosed by endoscopy. Chronic gastritis and gastric cancer
were judged by histology. Agar dilution test was used to determine the minimum
inhibitory concentrations of amoxicillin (AMX), clarithromycin (CLR),
metronidazole (MNZ), levofloxacin (LVFX), and tetracycline (TC).
Results: Among the 220 H. pylori strains, the resistance rates were 7.7% (AMX),
43.6% (CLR), 83.6% (MNZ), 33.2% (LVFX), and 10.9% (TC). The resistance rate for
LVFX was significantly higher in Ho Chi Minh city than that in Hanoi (41.2 vs.
21.1%, P< 0.05). Resistance to both CLR and MNZ was most commonly observed
(36.8%). 58.2% of H. pylori strains were resistant at least to 2 antibiotics or
more. One strain (0.5%) were resistant to 5 of the 5 antibiotics. No
significant association was observed between antibiotic resistance rates and
age, sex, or clinical outcomes of the patients.
Conclusions: High incidence of resistance to CLR, LVFX and MNZ suggests
that standard triple therapies may not be useful as first-line treatment.
Alternative strategies such as bismuth-based quadruple therapies may be more
effective.
Keywords: Helicobacter pylori,
antibiotic resistance.