Tạp chí Y học Thành phố Hồ Chí Minh, 20(2):232. DOI
Lượt xem: 190 Lượt tải PDF: 0
Lê Đức Tín*, Trần Quyết Tiến**
Mục tiêu: Áp dụng chỉ định can thiệp nội mạch kết hợp phẫu thuật trong điều trị tắc
động mạch mạn tính chi dưới.
Phương pháp nghiên cứu: Hồi cứu mô tả hàng loạt các trường hợp. Từ năm 2010 đến
năm 2013 tại bệnh viện Chợ Rẫy thực hiện phương pháp can thiệp nội mạch kết hợp
phẫu thuật.
Kết quả: Mẫu nghiên cứu có 35 bệnh nhân. Can thiệp nội mạch đóng vai trò chủ đạo với
phẫu thuật đặt giá đỡ nội mạch chiếm 88,6%, phẫu thuật tạo hình lòng mạch máu bằng
nong bóng chiếm 97,1%. Phẫu thuật bóc nội mạc chiếm 71,4%, cầu nối động mạch
đùi – đùi chiếm 48,6% mẫu nghiên cứu. Tiến hành can thiệp cả hai chân chiếm
65,7%, can thiệp cả hai tầng động mạch chậu – đùi và đùi – khoeo chiếm 94,3%.
Phương pháp có thời gian trung bình là 208,57 ± 75,29 phút, lượng máu mất trung
bình 238,57 ± 168,50 ml. Biến chứng chảy máu, bóc tách nội mạc và tắc mạch mỗi
biến chứng chiếm 5,7%, đoạn chi chiếm 2,9% và tử vong chiếm 2,9% trong nghiên cứu.
Can thiệp nội mạch kết hợp phẫu thuật đã thành công với kết quả ngắn hạn và
trung hạn lần lượt chiếm 97,1% và 94,3%.
Kết luận: Phương pháp can thiệp nội mạch kết hợp phẫu thuật đã cải thiện đáng kể các
triệu chứng lâm sàng và cận lâm sàng của bệnh nhân ở giai đoạn ngắn hạn và
trung hạn. Can thiệp nội mạch kết hợp phẫu thuật chỉ định phù hợp trên những bệnh
nhân tắc hẹp động mạch mạn tính chi dưới có biểu hiện thiếu máu chi nghiêm trọng,
với sang thương TASC II C, D.
Từ khóa: Can thiệp nội mạch kết hợp phẫu thuật, tắc động mạch mạn tính chi dưới, bệnh
mạch máu ngoại biên.
Objective: Apply to indicate hybrid procedures in the
treatment of chronic arterial lower limb.
Methods: retrospective study describes a series of cases.
The case of lower limb chronic arterial occlusion performed hybrid procedures
at Cho Ray Hospital from 2010 to 2013 years.
Results: The study sample of 35 patients. Endovascular techniques
played a key role with stent replacement in intravascular accounted for 88.6%,
percutaneous transluminal angioplasty (PTA) accounted by 97.1%. Femoral
endarterectomy accounted for 71.4%, femoro – femoral bypass accounted for 48.6%
of the study sample. Endovascular intervention conducted in both legs accounted
for 65.7%, intervention both aortoiliac arteries and femoral politeal arteries
accounted for 94.3%. The average surgical time was 208.57 ± 75.29 minutes,
average blood loss of 238.57 ± 168.50 ml. Bleeding, endothelial rupture and
embolism complications each accounted for 5.7%, amputation complications
accounted for 2.9% and accounted for 2.9% mortality in our study. Hybrid
procedures have been successful with short-term and medium-term results of
respectively 97.1% and 94.3%.
Conclusions: Hybrid procedures have significantly improved
clinical symptoms and laboratory results of patients with short-term and
medium-term. Hybrid procedures indicate suitably some cases who had Critical
Limb Ischemia (CLI) clinical symptoms with TASC II C/D classification.
Keywords: endovascular interventions, hybrid procedures,
chronic occlusive arterial of the lower extremities, critical limb ischemia,
peripheral vascular disease.