HO CHI MINH CITY JOURNAL OF MEDICINE
banner

HUYẾT KHỐI TĨNH MẠCH NÃO Ở PHỤ NỮ

CEREBRAL VENOUS THROMBOSIS IN WOMEN

Bấm tải bài viết

Tạp chí Y học Thành phố Hồ Chí Minh, 20(2):219. DOI

Lượt xem: 189 Lượt tải PDF: 1

Tác giả

Nguyễn Anh Tài*, Phạm Xuân Lãnh*

Tóm tắt

Mục đích nghiên cứu: Huyết khối tĩnh mạch não (HKTMN) là dạng đột quị não hiếm gặp. Bệnh thường gặp hơn ở phụ nữ. Tuy nhiên, các biểu hiện liên quan đến giới tính ít được mô tả.

Phương pháp nghiên cứu: Phân tích sự khác biệt liên quan giới tính về lâm sàng, nguyên nhân và kết quả ở BN HKTMN.

Kết quả: 144 BN HKTMN được chăm sóc tại khoa NTK trong 03 năm 2010 – 2012. Nữ giới chiếm (59,7%). Không có sự khác biệt về độ tuổi giữa hai nhóm bệnh nhân nam và nữ. Nữ giới có khởi phát bán cấp nhiều hơn (p=0,03) và biểu hiện lâm sàng bằng hội chứng tăng áp lực nội sọ nhiều hơn (p=0,02). Yếu tố nguy cơ liên quan đặc biệt đến giới tính (sử dụng thuốc ngừa thai, mang thai, chu sinh và sử dụng nội tiệt tố thay thế) ghi nhận trong 51,2% trong nhóm bệnh nhân nữ. Không có sự khác biệt về kết quả tử vong hoặc phụ thuộc (mRS=3-6) giữa hai nhóm bệnh nhân nam và nữ. Tuy nhiên trong nhóm bệnh nhân nữ, các bệnh nhân có các yếu tố nguy cơ liên quan đặc biệt đến giới tính ít có kết quả xấu (tử vong hoặc phụ thuộc) so với những bệnh nhân nữ còn lại (29% so với 63,6%). Phân tích hồi qui Logistic thực hiện với các biến số có liên quan với kết qủa tử vong hoặc phụ thuộc (P<0,1) xác định nhóm bệnh nhân nữ không có các YTNC đặc biệt liên quan giới tính (OR, 0,13; CI, 0,02 đến 0,7) và yếu liệt chi (OR, 9,9; CI, 1,3 đến 74,3) là yếu tố dự đoán độc lập tiên lượng kết quả xấu ở nhóm bệnh nhân nữ HKTMN.

Kết luận: Nghiên cứu của chúng tôi nhận định sự khác biệt quan trọng giữa nữ và nam về biểu hiện lâm sàng, diễn tiến và yếu tố nguy cơ của HKTMN và chứng minh rằng phụ nữ có các YTNC đặc biệt liên quan giới tính có tiên lượng tốt hơn các BN khác.

Từ khóa: HKTMN, đột quị não, phụ nữ

Abstract

Purpose: Cerebral venous thrombosis (CVT) is a rare subgroup of stroke. CVT is more common in women than man. However, the gender manifestations have been less known.

Methods: Analyse the gender difference in clinical features, etiology, and outcome in CVT.

Kết quả: 144 patients were managed at department of neurology, Chợ Rẫy hospital in three year (2010 – 2012). 59.7% of CVT were women. There were no gender difference in age of onset of CVT. Subacute onset of symptoms and clinical features of increase intracranial pressure were seen in women than man (p=0.03 and p=0.02). A Gender-specific risk factor (oral contraceptives, pregnancy, puerperium, and hormonal replacement therapy) was present in 51.2% of women. We found no different in poor outcome (Death or dependency - mRS=3-6) between men and women. However, the women who had gender-specific risk factor had less poor outcome than the other (29% versus 63.6%). Logistic regression analysis of variables that had the relation (P<0.1) with poor outcome confirmed that the absence of gender-specific risk factor (OR, 0.13; CI, 0.02 đến 0.7) and paresis (OR, 9,9; CI, 1,3 đến 74,3) were the independent predictors of poor outcome.

Conclusions: Our study recognized important differences between women and men in presentation, course, and risk factors of CVT and showed that women with a gender-specific risk factor have a much better prognosis than other patients.

Keywords: CVT, stroke, women