HO CHI MINH CITY JOURNAL OF MEDICINE
banner

ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ ĐIỀU TRỊ U TRUNG THẤT ÁC TÍNH BẰNG PHẪU THUẬT NỘI SOI LỒNG NGỰC

RESULT OF VIDEO THORACOSCOPIC MANAGEMENT MALIGNANT MEDIASTINAL TUMORS

Bấm tải bài viết

Tạp chí Y học Thành phố Hồ Chí Minh, 20(2):131. DOI

Lượt xem: 195 Lượt tải PDF: 0

Tác giả

Huỳnh Quang Khánh*, Trần Quyết Tiến*

Tóm tắt

Đặt vấn đề: Cho đến nay đã có nhiều báo cáo điều trị thành công các u lành tính ở trung thất bằng phẫu thuật nội soi. Với những u ác tính, việc xem xét, e ngại khả năng cắt không trọn vẹn khối u đã làm cho một số phẫu thuật viên miễn cưỡng trong việc thực hiện phẫu thuật nội soi trong điều trị. Việc sử dụng nội soi lồng ngực trong điều trị u ác tính trung thất vẫn còn bàn cãi. Tuy nhiên, với những lợi điểm mà nội soi mang lại cũng như những kinh nghiệm trong phẫu thuật nội soi, nói lên rằng chúng ta nên sử dụng phẫu thuật nội soi trong một số u trung thất ác tính có thể cắt trọn được với mục đích điều trị. Chúng tôi đánh giá kết quả chu phẫu và kết quả về ung thư học của phẫu thuật nội soi trong điều trị u ác tính trung thất có so sánh kết quả với mổ mở. Chúng tôi báo cáo sơ bộ những kinh nghiệm trong việc thực hiện phẫu thuật nội soi điều trị các u trung thất ác tính.

Phương pháp nghiên cứu: Đây là nghiên cứu đoàn hệ tiền cứu. Chúng tôi so sánh hai nhóm mổ mở và mổ nội soi cho các bệnh nhân có u ác tính trung thất. Tất cả các bệnh nhân u trung thất ác tính có chỉ định phẫu thuật được thực hiện bỡi phẫu thuật nội soi hay mổ mở. Các bệnh nhân đồng ý phẫu thuật nội soi sẽ được nội soi ban đầu đánh giá có khả năng cắt trọn u được không, nếu như đánh giá khả năng không thể cắt trọn u qua nội soi thì sẽ chuyển mổ mở để cắt trọn u. Từ tháng 7/2010 - 7/2013 tại khoa Ngoại Lồng ngực bệnh viện Chợ Rẫy có 209 bệnh nhân u trung thất được phẫu thuật, trong đó có 85 bệnh nhân có u ác tính ở trung thất được đưa vào nghiên cứu. Trong số này có 64 bệnh nhân u tuyến ức không có nhược cơ, còn lại 21 bệnh nhân là các u ác tính khác của trung thất.

Kết quả: Chúng tôi phân tích 85 bệnh nhân u ác tính trung thất được mổ điều trị. Nhóm mổ nội soi 36 trường hợp, nhóm mổ mở 45 trường hợp. Không có tử vong hay trường hợp nào phải chuyển từ mổ nội soi sang mổ mở. Kết quả so sánh giữa hai nhóm mổ mở và nội soi gồm: Kích thước u trung bình (cm) 8,44 ± 3,01 so với 7,47 ± 2,31, p = 0,108. Thời gian mổ trung bình (phút) 124,79 ± 50,79 so với 84,58 ± 41,23, p < 0,0001. Lượng máu mất trung bình (ml) 235,10 ± 307,72 so với 59,58 ± 59,58, p = 0,001. Thời gian hậu phẫu (ngày) 7,95 ± 2,43 so với 5,22 ± 1,39, p < 0.0001. Thời gian lưu ống dẫn lưu trung bình (ngày) 3,26 ± 0,93 so với 2,08 ± 0,28, p < 0,0001. Điểm đau sau mổ 5,79 ± 1,80 so với 3,80 ± 1,61, p <0,0001. Tỉ lệ biến chứng 10,2% so với 0,0%. Kết quả trung hạn: có 2 trường hợp u tái phát trong quá trình theo dõi trung bình 39 tháng ở nhóm mổ nội soi.

Kết luận: So với mổ mở kinh điển thì phẫu thuật nội soi lồng ngực ngày nay là một lựa chọn trong các bệnh lý lồng ngực và dần dần trở thành một phương pháp tiêu chuẩn trong điều trị tổn thương trong trung thất. Kết quả chỉ ra rằng so với mổ mở thì phẫu thuật nội soi cắt trọn các u trung thất ác tính có nhiều lợi điểm trong và sau mổ hơn so với mổ mở. Tỉ lệ biến chứng ở nhóm mổ nội soi ít hơn. Kết quả về ung thư học tương tự giữa hai nhóm. Tuy nhiên, theo dõi lâu dài các u ác tính cần có thêm nghiên cứu lâu dài hơn.

Từ khóa: Phẫu thuật nội soi lồng ngực, Phẫu thuật nội soi lồng ngực hỗ trợ, U tuyến ức U trung thất ác tính.

Abstract

Background: Many successful attempts at VTS to remove benign mediastinal tumors have been reported in the literature. With regard to malignant tumors, considering the possibility of the incomplete resection, most thoracic surgeons are reluctant to perform VTS resection. The use of video thoracoscopic surgery (VTS) in patients with malignant tumors remains controversial. However, with the advancement in video-equipment and greater experience gained by VTS enthusiasts, it is appropriate to say that we should try to use VTS to remove some resectable malignant tumors with a curative intention. We sought to evaluate the perioperative and oncological outcomes after VTS resection for malignant tumors and to compare the outcomes with those obtained after OPEN. We report our preliminary experience with video thoracoscopic removal of malignant mediastinal tumors.

Methods: This was a prospective cohort study. We compared patients undergoing mediastinal tumors resection for malignant tumors by either VTS or open methods. All patients with suspected mediastinal tumors suitable for operation were surveyed and informed about the procedure of video thoracoscopic surgery (VTS) and the comparison between the conventional operation and VTS. All the patients agreed that VTS was to be performed initially and that it would be continued if the tumor was resectable with VTS, even if the tumor was malignant. Yet, if it were impossible to complete the tumor resection with VTS, an immediate conversion would be performed. From July 2010 to July 2013 at Thoracic Surgery Department Cho Ray hospital, there were 209 patients with mediastinal tumors resection, in there 85 patients with malignant tumors were included in this study. 64 patients were included due to thymoma without myasthenia gravis, and 21 patients were included due to other malignant mediastinal tumors.

Results: We analyzed 85 patients with malignant mediastinal tumors resection (VTS: 36, OPEN: 45). None of operative mortality observed or none of VTS was converted to open procedures. Outcomes compared two group (OPEN versus VTS) included: The mean tumor size (cm) was 8,44 ± 3,01 versus 7,47 ± 2,31, p = 0,108. The mean operation time (min) was 124,79 ± 50,79 versus 84,58 ± 41,23, p < 0,0001. The mean blood loss (ml) 235,10 ± 307,72 versus 59,58 ± 59,58, p= 0,001. The mean postoperation time (day) was 7,95 ± 2,43 versus 5,22 ± 1,39, p < 0.0001. The mean chest tube duration (day) was 3,26 ± 0,93 versus 2,08 ± 0,28, p < 0.0001. The mean pain score postoperative was 5,79 ± 1,80 versus 3,80 ± 1,61, p < 0,0001. Complication rates were 10,2% versus 0,0%. The mid-term results: there were two cases recurences during the mean follow-up of 39 months in VTS group.

Conclusions: Compared with the conventional operation, video thoracoscopic surgery (VTS) is an alternative method for managing thoracic diseases and has gradually become a standard approach to some mediastinal lesions. The results confirm that VTS appears feasible for patients with malignant mediastinal tumors and is associated with better perioperative outcomes than OPEN. The oncological outcomes are also similar. Yet the long-term prognosis for the malignant lesions is deferred and needs further study.

Keywords: Video thoracoscopic surgery -VTS, Video-assisted thoracoscopic surgery- VATS, Thymoma, Malignant mediastinal tumors