Tạp chí Y học Thành phố Hồ Chí Minh, 20(2):42. DOI
Lượt xem: 225 Lượt tải PDF: 2
Nguyễn Văn Khôi*, Lê Văn Phước*, Nguyễn Huỳnh Nhật Tuấn*
Mở
đầu: Mục tiêu của các điều trị đột
quị thiếu máu não cấp là nhanh chóng tái thông mạch máu tắc nghẽn. Đề tài
nghiên cứu nhằm đánh giá hiệu quả tái thông, độ an toàn của can thiệp nội mạch
trong điều trị đột quị thiếu máu não cấp.
Đối
tượng và phương pháp: Nghiên cứu
tiến cứu, can thiệp lâm sàng không đối chứng, theo dõi dọc, đa trung tâm với
các bệnh nhân đột quị thiếu máu não cấp được điều trị can thiệp nội mạch tại bệnh
viện Chợ rẫy và Bạch Mai từ 4/2013 đến 11/2015. Phân loại TICI dùng đánh giá
tái thông trước và sau can thiệp. Hiệu quả và độ an toàn được đánh giá dựa vào
các biến: giảm điểm NIHSS ≥4, trung bình NIHSS, mRS thời điểm sau 24 giờ, 30 và
90 ngày; tỉ lệ xuất huyết não, tử vong, biến chứng kỹ thuật.
Kết
quả: 47 bệnh nhân đều bị tắc nghẽn
các nhánh mạch máu lớn gồm: động mạch cảnh trong (50,7%), đoạn M1 động mạch não
giữa (34,1%), đoạn M2 động mạch não giữa (8,5%) và thân nền (6,4%). Tất cả mạch
máu đều bị tắc nghẽn hoàn toàn hoặc gần hoàn toàn (78,7% TICI=0; 21,3% TICI=1).
Hiệu quả tái thông mạch máu thành công của TSHĐM đơn thuần, LHKCH đơn thuần,và
phối hợp lần lượt là 62,5%; 77,4%; và 81,3%. Về độ an toàn, giảm NIHSS ≥4 sau
24 giờ, 30 và 90 ngày lần lượt là 63,8%, 74,4% và 76,6%. Cải thiện lâm sàng có
ý nghĩa về trung bình mRS, NIHSS sau 24 giờ, 30 và 90 ngày (p<0.05). Tỉ lệ
xuất huyết não có triệu chứng 8,5%, không triệu chứng 12,8% và tử vong 10,6%.
Không có các biến chứng liên quan thủ thuật.
Kết
luận: Can thiệp nội mạch là kỹ
thuật giá trị, hiệu quả cải thiện lâm sàng cao và tương đối an toàn trong điều
trị đột quị thiếu máu não cấp. Can thiệp nội mạch có tỉ lệ tái thôngcao đối với
tắc các mạch máu lớn.
Từ
khóa: Đột quị thiếu máu não cấp,
can thiệp nội mạch, tái thông, tắc nghẽn, an toàn, hiệu quả, TICI.
Background:
Rapid revascularization is the
goal of treatment for acute ischemic stroke (AIS). The aim of study is to
evaluate the efficacy and safety of endovascular therapy in AIS.
Materials
and methods: A prospective, interventional
uncontrolledstudy, longitudinal follow up, multicenter, with patients
sufferingAIStreated by endovascular therapy at Choray and Bachmai Hospital from
4/2013 to 11/2015. TICI grade was used to evaluate the revascularization of the
vessels before and after treatment.The efficacy and safety were evaluated by
variants: a decrease of NIHSS ≥4 pts; average score of NIHSS, mRS at 24 hours,
30 and 90 days; the rate of intracranial hemorrhage, mortality and procedural
complications.
Results:
47 patients have occlusion in the
large vessels, includingICA (50.7%), M1-MCA (34.1%), M2-MCA (8.5%) and the
basilar artery (6.4%). All the vessels had been complete or nearly complete
occlusion (78.7% TICI=0;21.3% TICI=1). For efficacy of revascularization ofIA
thrombolysis or thrombectomy or combined havebeen succeeded in 62.5%; 77.4% and
81.3%, respectively. About the efficacy and safety, 4-point decrease of NIHSS
at 24 hours, 30 and 90 days is 63.8%, 74.4% and 76.6, respectively. There is a
significantly clinical improvement about the average score of NIHSS, mRS at 24
hours, 30 and 90 days (p<0.05). The rate of symptomatic and nonsymptomatic
intracranial hemorrhage is 8.5% and 12.8%; mortality is 10.6%. No complications
related to the technique.
Conclusion:
Endovascular therapy is a
valuable technique, high efficacy on clinical outcomes and safety in treatment
of acute ischemic stroke. It has high revascularization rates in large vessel
occlusion.
Keywords:
Acute ischemic stroke,
endovascular therapy, revascularization, occlusion, safety, efficacy, TICI.