HO CHI MINH CITY JOURNAL OF MEDICINE
banner

ĐIỀU TRỊ VI PHẪU THUẬT U TỦY CỔ DẠNG HÌNH ĐỒNG HỒ CÁT

MICROSURGICAL MANAGEMENT OF DUMBBELL TUMORS OF CERVICAL SPINE.

Bấm tải bài viết

Tạp chí Y học Thành phố Hồ Chí Minh, 19(6):101. DOI

Lượt xem: 128 Lượt tải PDF: 2

Tác giả

Trương Như Hiển*, Vũ Văn Hòe**, Hà Kim Trung***

Tóm tắt

Mục tiêu: Nghiên cứu các triệu chứng lâm sàng, phương pháp vi phẫu thuật các u tủy sống dạng hình đồng hồ cát vùng cổ tại Khoa Phẫu thuật thần kinh Bệnh viện 103 và Việt Đức từ năm 1/2011-1/2014.

Phương pháp: Phân tích hai mươi ba bệnh nhân có khối u hình quả tạ vùng tủy cổ được điều trị phẫu thuật. Chiến lược phẫu thuật loại u này được bàn luận về tính an toàn và sự can thiệp ít xâm lấn.

Kết quả: Nghiên cứu bao gồm 10 nam, 13 nữ. Kết quả giải phẫu bệnh: neurinoma 14/23(61,3%); schwannoma 7/23(30,1%); meningioma 1/23(4,3%); ganglioneuroma 1/23(4,3%). Theo phân loại của Eden đối với các loại u này có 12/23 (52,2%) loại 2, 11/23 (47,8%) loại 3, không có loại 1 và 4. 20 trường hợp, khối u được cắt bỏ thông qua đường mổ phía sau. Ba trường hợp phải phối hợp cả hai đường mổ trước và sau để lấy u. Cắt chân khớp không thực hiện trong 22 trường hợp. Trong một ca, chân khớp một bên đã bị phá hủy nên đã phải cắt bỏ. Lấy được hết u trong mọi trường hợp. Sau phẫu thuật, bệnh nhân không biểu hiện thiếu hụt thần kinh hơn trước đó, có hai trường hợp biểu hiện liệt rễ thoáng qua. Không có biến chứng sau phẫu thuật. Bốn bệnh nhân có sự tái phát u sau đó.

Kết luận: Phẫu thuật khối u Dumbbell đòi hỏi lấy bỏ hết cả hai phần u trong và ngoài ống sống, cần phải tìm được động mạch ống sống để bảo vệ nó. Khi phẫu thuật phía sau sử dụng dao siêu âm để lấy bỏ u qua lỗ mở một phần xương cung sau là phương pháp tốt tránh phải cắt phạm vào các chân khớp.

Từ khóa: U tủy sống cổ; u hình đồng hồ cát.

Abstract

Objectives: Analysis symptom and operative methods for dumbbell tumors of cervical spinal cord in 103 hospital and Vietduc hospital (1/2011-1/2014).

Methods: Twenty patients with cervical dumbbell tumors treated surgically were analyzed. Surgical strategies for dumbbell tumor were discussed from the perspective of safe, less-invasive surgery.

Results: Patients included 10 men and 13 women. Underlying pathologies included neurinoma 14/23 (61.3%); schwannoma 7/23 (30.1%); meningioma 1/23 (4.3%); ganglioneuroma 1/23 (4.3%). According to Eden’s classification, 12 patients were classified as Type 2, 11 as Type 3, 0 as Type 1, and 0 as Type 4. In 20 cases, tumors were excised through the posterior approach alone. Three cases were excised using combined anterior and posterior approaches. Facetectomy was not performed in 22 cases. In one case, the facet joint on one side had already destroyed and needed instrumentation. Tumors were totally excised in all cases. Postoperatively, the patients did not display any further neurological deficit, with the exception of transient radiculopathy in two patients. Major surgical complications were not seen. Tumor recurrence were found on 4 patients.

Conclusions: Dumbbell tumor surgery requires sufficient debulking of the epidural and paravertebral mass and need to detect the vertebral artery. When using a posterior approach, recapping laminoplasty using an ultrasonic curette is very useful to remove tumor without sacrificing facet joints.

Keywords: Cervical spine; Dumbbell tumors.