Tạp chí Y học Thành phố Hồ Chí Minh, 19(6):44. DOI
Lượt xem: 114 Lượt tải PDF: 4
Nguyễn Phong*, Đỗ Hồng Hải **
Mục tiêu: Đánh giá kết quả phẫu thuật u màng não mặt sau
xương đá qua đường mổ sau xoang sigma.
Đối tượng và phương pháp
nghiên cứu: Hồi cứu 19 trường hợp
u màng não mặt sau xương đá được phẫu thuật tại khoa ngoại thần kinh bệnh viện
Chợ Rẫy từ tháng 1/2014 đến 6/2015. Bệnh nhân được thu thập các dữ liệu về dịch
tễ và triệu chứng lâm sàng và cận lâm sàng trước và sau phẫu thuật, bao gồm: chức
năng thần kinh sọ, đặc điểm u trên phim CT và MRI, đặc điểm phẫu thuật.
Kết quả: Có tổng cộng 19 bệnh nhân, nữ chiếm 78,9%, nam chiếm
21,1%, độ tuổi trung bình là 49,2 tuổi. Triệu chứng chủ yếu đưa bệnh nhân đi
khám bệnh là đau đầu (47,4%) và giảm thính lực (31,6%). Phân loại u dựa theo vị
trí gốc bám so với lỗ ông tai trong: trước lỗ ống tai trong (15,8%), trên lỗ ống
tai trong (10,5%), dưới lỗ ống tai trong (31,6%), sau lỗ ống tai trong (36,8%).
U có kích thước trung bình là 4,4 cm. Kết quả phẫu thuật: tỉ lệ lấy trọn u là 9
trường hợp, chiếm 47,3%, 11 trường hợp (68,4%), chừa lại phần u bao quanh thần
kinh. Chức năng thần kính sọ sau mổ: 2 trương hợp tổn thương dây V như trước mổ,
trường hợp tổn thương dây VI xuất hiện sau mổ, 4 trường hợp tổn thương dây VII
xuât hiện sau mổ nâng tổng số bệnh nhân tổn thương dây VII lên 6 bệnh nhân, 3
trường hợp tổn thương IX, X sau mổ. 5 trường hợp điếc hoàn toàn trước mổ không
hồi phục sau phẫu thuật. Ù tai chiếm tỷ lệ 31,6% trước mổ và cải thiện sau mổ.
Kết luận: Việc bảo tồn chức năng thần kinh sọ có thể đạt được ngay
cả ở khối u lớn bằng đường tiếp cận dưới chẩm sau xoang sigma. Việc chừa lại khối u bao quanh hay dính chặc vào thần kinh sọ
nhăm bảo tồn chức năng thần kinh sọ là cần thiết, trong thời đại có sự trợ giúp
của xạ phẫu gamma knife.
Từ khóa: u màng não mặt sau xương đá, đường mổ
sau xoang xích ma
Object: The aim of this study was to analyze a subgroup
of patients harboring cerebellopontine angle meningiomas originating from the
posterior petrous bone in regard to clinical presentation, surgical anatomy,
complications, and long-term functional postoperative results
Methods: Data in a series of 19 patients with meningiomas
of the posterior petrous bone who had undergone microsurgical treatment at the
authors’ institution between 1/2014 and 6/2015 were retrospectively reviewed.
The patient population consisted of 15 women and 4 men with a mean age of 49.2
years. The main symptom on first admission was headache (47.4%), impaired
hearing in 31.6%. The tumor was found to be attached to the postmeatal dura in
36.8%, the premeatal dura in 15.8%, the suprameatal dura in 10.5%, the
inframeatal dura in 31.6%. Tumor extension into the internal acoustic meatus
was present in seven patients. The site of displacement of the cranial nerves
was predictable, depending on the dural origin of the tumor as depicted on
preoperative magnetic resonance (MR) imaging studies. Postoperatively, a new
and permanent facial paresis was observed in 4 patients.
Conclusions: Preoperative detailed analysis of MR imaging data
gives the surgeon a clue about the dislocation of critical neurovascular
structures, particularly the cranial nerves. Nonetheless, the exact
relationship of the cranial nerves to the tumor (dislocation, adherence,
infiltration, and splaying of nerves) can only be fully appreciated during
surgery.
Key words: Meningiomas of posterior petrous bone,
retrosigmoid microsurgery approach.