HO CHI MINH CITY JOURNAL OF MEDICINE
banner

ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ VI PHẪU THUẬT U BAO DÂY THẦN KINH LỖ CẢNH

MICROSURGICAL RESULTS OF THE TREATMENT OF JUGULAR FORAMEN TUMORS

Bấm tải bài viết

Tạp chí Y học Thành phố Hồ Chí Minh, 19(6):28. DOI

Lượt xem: 116 Lượt tải PDF: 5

Tác giả

Hoàng Thế Hưng*, Nguyễn Phong*, Tô Huỳnh Minh Tâm*

Tóm tắt

Mục tiêu: Khảo sát đặc điểm lâm sàng, hình ảnh học và đánh giá kết quả sau phẫu thuật u bao dây thần kinh lỗ cảnh (UBDTKLC)

Phương pháp: Hồi cứu mô tả hàng loạt ca. Từ tháng 01/2008 đến tháng 12/2014 có 28 trường hợp UBDTKLC được phẫu thuật tại khoa Ngoại Thần Kinh bệnh viện Chợ Rẫy. Tác giả đã mô tả các dấu hiệu lâm sàng của u, tất cả bệnh nhân (BN) đều được đánh giá hình ảnh dựa vào MRI não. Kết quả phẫu thuật đánh giá gồm mức độ lấy u, tình trạng bệnh nhân theo thang điểm GOS và các biến chứng sau mổ.

Kết quả: Tuổi trung bình của 9 nam (32%) và 19 nữ (68%) là 38 tuổi. 82% BN đến nhập viện trong vòng 1 năm kể từ khi có triệu chứng đầu tiên. Các triệu chứng lâm sàng thường gặp như đau đầu (42.8%), giảm thính lực (39.3%), ù tai (21.4%), khàn giọng (32.1%), nuốt sặc (32.1%), yếu vai (25%). Đường kính trung bình của u là 5cm. U tuýp A chiếm 57.1%; tuýp B 10.7%; tuýp C 7.2% và tuýp D chiếm 25%. Phần lớn các BN (78.6%) được mổ theo đường dưới chẩm bên. 17.9% được mổ theo đường mổ xuyên cổ xương chũm và 3.5% được mổ với đường mổ Hockey stick. Kết quả lấy toàn bộ u là 39.3%. Tỉ lệ BN hồi phục sau mổ khá, tốt là 92.8% (GOS = 4 và GOS = 5). 1 bệnh nhân (3.5%) tử vong do các biến chứng sau mổ (máu tụ, viêm phổi hít, viêm màng não, nhiễm trùng huyết). Tỉ lệ xuất hiện mới tổn thương dây sọ thấp và dây VII là 35.7% và 25%.

Kết luận: Hình ảnh lâm sàng của u rất đa dạng. Chẩn đoán trước mổ đôi khi dễ bị nhầm lẫn với u bao dây thần kinh thính giác trên MRI não và lâm sàng bệnh nhân chỉ có biểu hiện của thương tổn dây VIII. Nguy cơ tổn thương chức năng các dây thần kinh sọ thấp và dây mặt sau mổ còn cao. Vi phẫu thuật lấy trọn và gần trọn u đối với các khối u có kich thước hơn 3cm vẫn là lựa chọn điều trị tối ưu, đem lại hiệu quả cao.

Từ khóa: u bao dây thần kinh lỗ cảnh, dây thần kinh sọ thấp, vi phẫu thuật

Abstract

Objective: to examine the clinical feature, radiology and evaluate the results of surgical treatment of jugular foramen schwannoma

Methods: Retrospective and descriptive study. 28 patients with jugular foramen schwannoma who underwent surgery at the Neurosurgery department of ChoRay Hospital from 01/2008 to 12/2014. We described the clinical features of this tumor, diagnosis were made all by brain MRI. The post-operative results included tumor removal level, patient’s condition following GOS and complications after surgery.

Result: The mean age of 9 male (32%) and 19 female (68%) was. 82% patients were admitted around one year from the first symptom. Clinical features are usually headache (42.8%), hearing loss (39.3%), tinnitus (21.4%), hoarseness (32.1%), swallowing difficulty (32.1%), shoulder weakness (25%). The mean diameter of tumors was. 57.1% were type A, 10.7% were type B; 7.2% were type C and 25% were type D. The surgical approaches include later suboccipital (78.6%), cervical-transmastoid (17.9%) and Hockey stick (3.5%). 39.3% of cases were totally removed. Patient’s post-operative status in moderate and good recovery was 92.8% (GOS = 4 and GOS = 5). One patient (3.5%) was died for many complications (hematoma, aspiration pneumonia, meningitis, sepsis). The frequencies of new dysfunction of lower cranial nerves and facial nerve are 35.7% and 25%.

Conclusions: Jugular foramen schwannoma has diversity clinical features. Pre-operative diagnosis may mimic an acoustic neurinoma on MRI and if the patient only has the symptoms of the VIII cranial nerve injury. The risks of post operative injury of lower cranial nerves and facial nerve are still high. Surgical removal of total and subtotal tumor for which tumor has the size over 3 cm remains the effective choice of treatment.

Keywords: jugular foramen schwannoma, lower cranial nerve, microsurgery.