Tạp chí Y học Thành phố Hồ Chí Minh, 19(1):389. DOI
Lượt xem: 144 Lượt tải PDF: 3
Nguyễn Thị Bích Yến*, Đồng Văn Ngọc**, Nguyễn Huy Dũng*, Nguyễn Hữu Lân*
Đặt vấn đề: Tổ chức Y tế Thế giới (WHO: World Health Organization)
khuyến cáo nhân viên y tế tư vấn xét nghiệm HIV (PITC: Provider Initiated HIV
Testing and Counseling) cho tất cả bệnh nhân lao, sàng lọc lao cho người nhiễm
HIV và tăng cường phối hợp hoạt động giữa hai chương trình lao và HIV. Chương
trình chống lao quốc gia (CTCLQG) tại thành phố Hồ Chí Minh đã triển khai các
hoạt động này từ năm 2006, dưới sự tài trợ của Trung tâm Dự phòng và Kiểm soát
Dịch bệnh Hoa Kỳ (US CDC: US Centers
for Disease Control and Prevention).
Phương pháp: Số liệu PITC cho bệnh nhân lao, sàng lọc và chẩn đoán lao
cho người nhiễm HIV, và chuyển gửi bệnh nhân đồng nhiễm lao/HIV giữa hai chương
trình từ tháng 7/2006 đến tháng 3/2014 đã được thu thập và xử lý.
Kết quả: Từ 2006 - 2013, trong tổng số 101.150 bệnh nhân lao đăng ký điều trị trong
CTCLQG tại thành phố Hồ Chí Minh, có 92.792 (91,7%) bệnh nhân đã nhận PITC. Số bệnh nhân lao có HIV dương tính là 12.963 (12,8%). Trong đó, có 9.428 (72,7%) bệnh nhân đã biết nhiễm HIV trước khi
chẩn đoán lao. PITC giúp chẩn đoán HIV thêm 3.534 (27,3%) bệnh nhân lao. 9.761
(75,3%) bệnh nhân lao đồng nhiễm lao/HIV đã được chuyển thành công sang các
phòng khám ngoại trú (OPC: Out-Patient Clinics) để được chăm sóc và điều trị
HIV (tăng từ 17,8 trong năm 2006 lên 85,6% trong năm 2013). Sàng lọc lao trong
số người nhiễm HIV được thực hiện từ 2008 và hiện nay đã trở thành thường quy tại
các OPC ở thành phố Hồ Chí Minh. Số người nhiễm HIV được chẩn đoán lao ngày
càng giảm dần, từ 1250 (năm 2008) còn 232 (năm 2013) bệnh nhân trên toàn thành
phố. Với sự phối hợp chặt chẽ giữa cán bộ y tế của các cơ sở chăm sóc bệnh nhân
lao và HIV, tỷ lệ bệnh nhân đồng nhiễm lao/HIV được bắt đầu điều trị kháng
retrovirus (ART: Antiretroviral
therapy) đã cải thiện từng năm (9% trong năm 2006 lên 71,4% trong năm 2013). Điều
này đã giúp cải thiện kết quả điều trị lao cho người đồng nhiễm HIV, tăng tỷ lệ
lành bệnh (65,3% trong năm 2006 lên 71,8% trong năm 2012) và giảm tỷ lệ tử vong
(17,5% trong năm 2006 xuống 11,5% trong năm 2012) ở thành phố Hồ Chí Minh.
Kết luận: Nghiên cứu này đã cho thấy sự thành công của hoạt động PITC cho bệnh nhân
lao, sàng lọc và chẩn đoán lao cho bệnh nhân nhiễm HIV tại thành phố Hồ Chí
Minh. Sự phối hợp chặt chẽ giữa cán bộ y tế của chương trình lao và HIV làm
tăng tỷ lệ bệnh nhân đồng nhiễm lao/HIV nhận sớm trong thời gian điều trị lao
là điều rất quan trọng. Bệnh nhân lao có HIV được nhận ART sớm và bệnh nhân nhiễm
HIV được chẩn đoán lao sớm có thể cải thiện được kết qủa điều trị lao. Cần có
thêm nhiều cố gắng để duy trì và làm gia tăng hơn nữa sự tiếp cận ART cho bệnh
nhân đồng nhiễm lao/HIV.
Từ khóa: tư vấn xét nghiệm HIV; bệnh nhân đồng nhiễm lao/HIV, chẩn đoán lao/HIV, điều
trị lao/HIV.
Background: The World Health Organization (WHO) recommends
provider-initiated HIV testing and counseling (PITC) to all Tuberculosis (TB) patients, TB screening và diagnosis for HIV
patients and scale-up collaboration between TB và HIV programs. The TB Control
Program in Ho Chi Minh City has implemented these activities with support from
the US Centers for Disease Control and Prevention (US CDC) since 2006.
Methods: Data of PITC for TB patients, TB screening for HIV
population and patient referral for TB/HIV co-infected patients in a US CDC
supported project at Ho Chi Minh City from July 2006 to March 2014 were
collected and analyzed.
Results: From 2006 to 2013, among total 101,150 registered
TB patients in Ho Chi Minh City, PITC was performed successfully on 92,792
(91.7%) TB patients. The number of HIV positive individuals
with TB was 12,963 (12.8%).
Among these individuals, there were 9,428 patients (72.7%) who
already knew their HIV-infected status. The PITC helped provide an HIV
diagnosis for 3,534 TB patients (27.3%). 9,761 (75.3%) HIV-infected TB patients
were referred succesfully to care facilities of the HIV out-patient clinics
(increasing from 17.8 in 2006 to 85.6% in 2013). TB screening among HIV
population has been done since 2008 and now it is routine activity in
Out-Patient Clinics (OPC) facilities in Ho Chi Minh City. The number of TB
cases in HIV patients is decreasing, from 1250 (in 2008) to 232 (in 2013)
patients. With close cooperation between health care workers in TB và HIV
centers, the rate of co-infected patients who have been started on ART has
improved year by year (9% in 2006 to 71.4% in 2013). This result may contribute
to an increase in the rate of TB cure (65.3% in 2006 up to 71.8% in 2012) and
decrease mortality rate (17.5% in 2006 down to 11.5% in 2012) in TB/HIV
patients in Ho Chi Minh City.
Conclusions: These findings demonstrated successful PITC for TB
patients with TB staff and their patients consent and TB screening for HIV
population in Ho Chi Minh City, Vietnam. Collaboration closely between TB và
HIV care facilities to increase the number of TB/HIV co-infected patients who
receive ART early during their TB treatment time is very important. More
HIV-infected TB patients on ART and early TB diagnosis among HIV population may
help improve the outcome of TB treatment. Still more effort is needed to
increase and sustain access to ART for HIV-infected TB patients.
Keywords: Provider Initiated HIV Testing and Counseling; TB/HIV co-infected patients, TB/HIV diagnosis,
TB/HIV treatment.